Rss Feed Đăng nhập

Báo cáo chuyên đề tháng 2/2019: Sự ảnh hưởng của Văn hóa Ấn Độ

Gửi lên: 01/03/2019 22:47, Người gửi: lichsu, Đã xem: 38
cmd+Báo cáo chuyên đề tháng 2 :  
 Tên chuyên đề :           
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA ẤN ĐỘ
 ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
                                                         Người báo cáo: Nguyễn Thị Thùy Dung
    Ấn Độ là một bán đảo hình tam giác, nằm ở phía nam châu Á nhưng hầu như ngăn cách với châu lục này bởi dải núi cao nhất thế giới, Himalaya, nên còn được gọi là một “tiểu lục địa”. Núi cao, rừng rậm, rừng nguyên sinh đã khiến lãnh thổ bị ngăn cách nhau đáng kể giữa Đông và Tây, Nam và Bắc. Chỉ có miền Bắc là bằng phẳng bởi lưu vực của hai con sông lớn: sông Ấn, sông Hằng – nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh Ấn Độ. Có thể nói, văn hóa Ấn Độ là nền văn hóa tiêu biểu, cổ xưa và dược truyền bá rộng rãi.
I. Khái quát lịch sử và thành tựu văn hóa Ấn Độ thời phong kiến
1. Khái lược lịch sử Ấn Độ thời phong kiến
   - Từ khi bước vào xã hội có nhà nước cho đến khi bị thực dân Anh chinh phục, lịch sử Ấn Độ trải qua các thời kì chính: Thời kì văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên niên kỉ III đến giữa thiên niên kỉ II TCN); Thời kì Veda (từ giữa thiên niên kỉ II đến giữa thiên niên kỉ I TCN); Ấn Độ từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XII với sự thịnh đạt nhất thời A-sô-ca; Ấn Độ thế kỉ XIII – XIX với vương triều Đêli và Mô-gôn. Trải qua các thời kì, văn hóa Ấn Độ đã có bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt.
2. Thành tựu tiêu biểu
a. Chữ viết
- Người Ấn Độ sớm có chữ viết, như chữ cổ vùng sông Ấn có từ 3000 năm TCN, chữ cổ vùng sông Hằng có khoảng 1000 năm TCN. Ban đầu là kiểu chữ đơn giản Bra-mi, được dùng để khắc trên cột đá A-sô-ca, rồi sáng tạo thành hệ thống chữ Phạn được hoàn thiện từ thời A-sô-ca cả chữ viết và ngữ pháp. Ngôn ngữ Phạn dùng phổ biến dưới thời Gúp-ta trong việc viết bia. Ngôn ngữ và văn tự phát triển là điều kiện để chuyển tải, truyền bá văn học, văn hóa Ấn Độ.
b. Văn học
- Ấn Độ là một nước có nền văn học rất phát triển. Thời cổ đại, văn học Ấn Độ gồm hai bộ phận quan trọng là Veda và sử thi.
+ Veda vốn nghĩa là hiểu biết, gồm 4 tập: Rích Veda, Xama Veda, Yagiua Veda, Actava Veda. Ba tập Veda đầu gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh tình hình người Aria tràn vào Ấn Độ, tình hình tan rã của chế độ thị tộc, tình hình cư dân đấu tranh với thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt. Còn Actava Veda chủ yếu gồm các bài chú nhưng nội dung mà tập Veda này đề cập đến gồm các mặt như chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả tình yêu nữa.
+ Sử thi: Ấn Độ có hai bộ sử thi khá đồ sộ: Mahabharata và Ramayana. Hai bộ sử thi này được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỉ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các thế kỉ đầu công nguyên thì được dịch ra tiếng Xanxcrit. Mahabharata  có chủ đề là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Còn Ramayana là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita. Hai bộ sử thi này là những công trình sáng tác tập thể của nhân dân Ấn Độ trong nhiều thế kỉ và là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong hai ngàn năm nay.
- Ở giai đoạn sau,đặc trưng chung của nền thi ca Ấn Độ là dùng ngôn ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đình, đồng thời còn sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh được tâm tư nguyện vọng của quần chúng nên được nhân dân rất thích thú: Sơ-kun-tơ-la...
c. Nghệ thuật
- Thời cổ trung đại, Ấn Độ có một nền nghệ thuật phong phú đặc sắc bao gồm nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là các ngành kiến trúc, điêu khắc về cung điện, chùa, tháp, trụ đá...Cùng với sự truyền bá Phật giáo và lòng tôn sùng với Phật, người ta đã làm nhiều ngôi chùa hang bằng cách đục đẽo hang đá thành hàng chục ngôi chùa rất kì vĩ, là những công trình kiến trúc rất đẹp và rất lớn. Cùng với chùa là những pho tượng Phật điêu khắc bằng đá hoặc trên đá: chùa Ajanta, Enlora, Tanjo... Bên cạnh đó, cùng với sự hình thành và phát triển của đạo Hinđu, người Ấn cũng xây dựng nhiều ngôi đền bằng đá rất đồ sộ, hình chóp núi, là nơi ngự trị của thần thánh và cũng tạc bằng đá hoặc đúc bằng đồng rất nhiều hình tượng thần thánh để thờ, làm thành những phong cách nghệ thuật tạc tượng rất độc đáo.
- Đến thời vương triều Deli và Môgon, cùng với việc đạo Hồi trở thành quốc giáo, ở Ấn Độ xuất hiện những công trình kiến trúc mới xây dựng theo kiểu Trung Á và Tây Á. Đó là những nhà thờ Hồi giáo, cung điện, lăng mộ mà đặc điểm chung của lối kiến trúc này là mái tròn, cửa vòm, có tháp nhọn. Tiêu biểu nhất là lăng Taja Mahan được xây dựng vào thế kỉ XVII.
d. Khoa học tự nhiên
 Mặc dù áp lực của tôn giáo rất mạnh nhưng do nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, nhân dân Án Độ đã có nhiều phát minh quan trọng về một số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, y dược học...
 - Về thiên văn: Từ sớm, cư dân ở đây đã biết chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận. Các nhà thiên văn học Ấn Độ cổ đại đã biết được quả đất và mặt trăng đều hình cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kì trăng tròn, trăng khuyết. Họ còn biết được 5 hành tinh: Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ; biết được một số chòm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính.
- Về Toán học: Người Ấn Độ có một phát minh tưởng rất bình thường nhưng kì thực là một phát minh vô cùng quan trọng, đó là việc sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay được dùng rộng rãi trên thế giới. Đến thế kỉ VI, người Ấn Độ đã tính được một cách chính xác số pi là 3,1416; đồng thời còn phát minh ra đại số học. Về hình học, người Ấn đã biết tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác...
- Về y dược học: Ấn Độ cổ dại có những thành tựu rất lớn và sớm hơn rất nhiều so với các nước khác. Các thấy thuốc Ấn Độ đã biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh, biết cách chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai. Nổi tiếng có thầy thuốc: Xusruta, Saraca...
e. Tôn giáo
 Ấn Độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất là đạo Balamon về sau là đạo Hinđu và đạo Phật
- Đạo Balamon ra đời vào những thế kỉ đầu của thiên niên kỉ I TCN, là một tôn giáo đa thần, trong đó cao nhất là thần Brama – thần sáng tạo thế giới. Bên cạnh đó, nhiều loại động vật như voi, khỉ, nhất là bò cúng là những đối tượng sùng bái của đạo Balamon. Đạo Balamon đưa ra thuyết luân hồi, là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ về xã hội. Nó được truyền bá rộng rãi ở Ấn Độ trong nhiều thế kỉ. Đến khoảng thế kỉ VI TCN, ở Ấn Độ xuất hiện một tôn giáo mới là đạo Phật nên đạo Balamon bị suy thoái trong một thời gian dài.
- Sau một thời gian hưng thịnh, đến khoảng thế kỉ VII, đạo Phật bị suy yếu ở Ấn Độ. Nhân tình hình đó, đạo Balamon dần phục hưng, đến khoảng thế kỉ VIII, IX đạo Balamon đã bổ sung thêm nhiều yếu tố mới về đối tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế lễ...Từ đó, đạo Balamon được gọi là đạo Hinđu hay là Ấn Độ giáo. Đối tượng sùng bái chủ yếu của nó là thần Brama, Siva và Visnu. Nó cũng coi trọng sự phân chia đẳng cấp và hiện nay đa số dân Ấn Độ đều theo đạo này (84%).
- Đạo Phật xuất hiện vào thế kỉ VI TCN do Thích ca Mâu ni sáng lập nhằm nêu ra cái chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ. Đạo Phật đã nêu ra “tứ diệu đề”: khổ đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế. Với tư tưởng từ bi, hỉ xả, bình đẳng, bác ái, đạo Phật được truyền bá rộng rãi khắp Ấn Độ và sang các nước châu Á khác.
II. Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với khu vực Đông Nam Á
1. Sự  lan tỏa và thâm nhập của văn hóa Ấn Độ đến khu vực Đông Nam Á
- Từ thế kỉ I, II, người Ấn Độ di cư sang phía Đông và Đông Nam Á
- Sự gần gũi về địa lí, sự tương đồng của cơ tầng văn hóa nông nghiệp phương Đông
- Sự phát triển của kinh tế hàng hải
- Sự phát triển cao của văn hóa Ấn Độ
2. Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với các nước Đông Nam Á
  Người Ấn Độ đã mang văn hóa đặc biệt là văn hóa truyền thống của mình truyền bá ra bên ngoài, trong đó có các nước Đông Nam Á:
- Chữ viết: Qua các văn bia, người ta đã biết chữ Phạn cua Ấn Độ được du nhập vào ĐNA từ rất sớm vào khoảng những thế kỉ đầu công nguyên. Trên cơ sở của văn tự Phạn, các dân tộc ĐNA đã sáng tạo ra chữ viết riêng của mình: chữ Chăm – thế kỉ IV, chữ Khơme – thế kỉ VII, chữ Mã Lai – VII, chữ Thái cổ - XIII...Việc sáng tạo ra chữ viết và cải tiến nó của các cư dân cổ ĐNA không phải là sự bắt chước đơn giản mà là cả quá trình lao động công phu và sáng tạo, một thành tựu đáng kể về văn hóa của khi vực. Sự truyền bá chữ Phạn đã tạo điều kiện cho cư dân ĐNA sớm tiếp xúc với nền văn học chính thống, dòng văn học viết. Dòng văn học viết ĐNA không chỉ tiếp thu văn học Ấn Độ về mẫu tự mà còn cả về đề tài và thể loại. Đó là những bản văn khắc trên bia đá được tìm thấy ở hầu khắp các nước trong khu vực, những bản trường ca: Thao Hùng, Thao Thương...; truyện  thơ: Riêm Kê, Tum Tiêu...; kịch thơ: Nàng Ka- Kây; sử thi: Ni-tan. Giai đoạn đầu, dòng văn học này phát triển chủ yếu trong giới quý tộc, quan lại vì thế được coi là văn học chính thống, cao quý, bác học hay còn gọi là văn học cung đình. Song, trong quá trình phát triển, dòng văn học viết có xu hướng dần trở về dân tộc. Bên cạnh những đề tài, những “điển tích văn học” được khai thác từ nước ngoài, những tác phẩm khai thác đề tài trong nước xuất hiện ngày càng nhiều. Dòng văn học viết bằng tiếng dân tộc cũng phát triển nhanh chóng, chiếm lĩnh văn đàn, thay thế dần cho dòng văn học bằng tiếng vay mượn. Khi ý thức dân tộc trỗi dậy, văn học viết có xu hướng tìm về với văn học viết tái tạo, được nâng lên, trở thành biểu tượng chung cả dân tộc. Văn học dân gian đã có tác dụng làm nền tảng cho văn học viết hình thành và phát triển và ngược lại,văn học viết đã tái tạo và thúc đẩy văn học dân gian phát triển.
- Kiến trúc đền chùa Đông Nam Á cũng bắt nguồn từ kiến trúc Ấn Độ - kiến trúc Hinđu giáo và Ấn Độ giáo: khu di tích Mĩ Sơn của người Chăm (Ninh Thuận – Việt Nam); tổng thể kiến trúc Bô-rô-bu-đua ở Indonexia; khu đền Ăng Co ở Campuchia, chùa Vàng ở Mianma.
- Tư rưởng: Từ những thế kỉ đầu công nguyên, Hinđu giáo và Phật giáo đã được truyền bá vào Đông Nam Á. Thời kì đầu, Hinđu giáo có phần thịnh hành hơn. Người ta thờ thần Bra-ma, Vi-snu và Si-va,tạc nhiều tượng và xây dựng nhiều đền tháp theo kiểu kiến trúc Hinđu. Từ thế kỉ XIII, dòng Phật giáo Tiểu thừa được phổ biến nhiều ở các nước ĐNA. Đền tháp cũ bị bỏ vắng, các chùa mới mọc lên. Trong nhiều thế kỉ sau đó, Phật giáo đã có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, văn hóa của cư dân ĐNA. Vì thế, các tổ chức sư tăng cũng như Nhà nước rất chú ý tới việc phổ biến tư tưởng Phật giáo trong dân chúng, đặc biệt là qua hệ thống giáo dục. Ngôi chùa không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là một trung tâm văn hóa, là hình tượng chân – thiện – mĩ đối với mọi người dân, trở thành nơi lưu giữ và phổ biến văn háo, tri thức cho dân chúng.
 
 

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 280.50 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: N/A
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 01/03/2019 22:47
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    15
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

Danh mục

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 1701 view

  Giải trí

1 photos | 1593 view

  Kỷ yếu

0 photos | 413 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 29
  • Khách viếng thăm: 26
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 2476
  • Tháng hiện tại: 20787
  • Tổng lượt truy cập: 2612602

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606