Rss Feed Đăng nhập

ĐỀ MINH HỌA NGỮ VĂN SỐ 2, THPT Nghèn 2019

Gửi lên: 25/04/2019 04:06, Người gửi: trannga, Đã xem: 13
                                          
                                                    BIÊN SOẠN ĐỀ
I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:
1. Kiến thức:
- Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức kĩ năng trong chương trình môn Ngữ văn lớp 12, cụ thể sau khi đã học xong chương trình Ngữ văn 12.
-  Khảo sát, bao quát một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của các văn bản với nội dung quan trọng: Làm văn, với mục đích đánh giá năng lực đọc - hiểu và tạo lập văn bản của học sinh thông qua hình thức tự luận.
2. Kĩ năng: Biết vận dụng những kiến thức trên vào làm bài.
3. Thái độ: Độc lập, sáng tạo trong làm bài.
II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA:
- Tự luận
- Cách tổ chức kiểm tra: (Học sinh làm bài ở lớp – 120 phút)
III. THIẾT LẬP MA TRẬN:
KHUNG MA TRẬN  ĐỀ KIỂM TRA
Mức độ
 
Chủ đề
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
Thấp Cao
Đọc - hiểu
(Văn bản văn xuôi)
Nhận biết được một số vấn đề được nói đến trong văn bản. - Hiểu được bản chất của từng vấn đề.
- Biết cách trình bày quan điểm của mình về một vấn đề nào đó.
Biết cách viết một đoạn văn theo yêu cầu.
 
 
 
 
 
 
 
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
1
0,5
5%
1
0,5
5%
2
2,0
20%
 
 
 
4
3,0
30%
Làm văn:
Viết đoạn văn . Viết bài văn nghị luận
.
     Vận dụng kiến thức,  kĩ năng  để viết đoạn văn từ vấn đề đặt ra ở văn bản đọc- hiểu. Vận dụng kiến thức,  kĩ năng  để viết đoạn văn, làm bài văn nghị luận văn học về một vấn đề trong tác phẩm đã học.  
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
 
 
  1
2,0
20%
1
5,0
50%
2
7,0
70%
 
Tổng số câu
Tổng  điểm
Tỉ lệ
1
0,5
5%
1
0,5
5%
2
4,0
40%
2
5,0
50%
6
10,0
100%
 ĐỀ BÀI:
I. Đọc- hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây:
        Sống là tìm cầu hạnh phúc, là ước vọng bình yên. Do vậy, trong cuộc sống ai cũng muốn có được niềm vui và hạnh phúc cho bản thân. 
        Có người tìm kiếm niềm vui từ những thú vui vật chất, từ những tiện nghi hiện đại trong cuộc sống. Có người tìm kiếm niềm vui từ những thú chơi tao nhã như chăm cây cảnh, trồng hoa lan, nuôi chim cá… Cũng có người tìm kiếm niềm vui từ việc đọc sách, đánh đàn… Với những người đệ tử Phật, họ có thể tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc từ việc chuyên tâm niệm Phật, tọa thiền hoặc tụng kinh, lễ Phật… Mỗi người một vẻ, tùy theo sở thích, cá tính và điều kiện hoàn cảnh mà họ có cách tìm kiếm niềm vui riêng. Chính vì phương thức tìm kiếm niềm vui khác nhau nên tính chất của niềm vui ấy cũng không giống nhau, có những niềm vui tạm bợ, có những niềm vui lâu dài, có niềm vui nặng nề và cũng có những niềm vui siêu thoát.
        Trong nhiều cách thức để tìm kiếm niềm vui và hạnh phúc cho cuộc sống, có một cách thức mà mọi người đều có thể làm được, đó là sự cho đi, sự ban tặng hay có thể gọi là bố thí, cúng dường. Tuy có thể gọi dưới nhiều danh từ khác nhau tùy theo đối tượng, hoàn cảnh, cách thức, nhưng việc làm này đều có chung một ý nghĩa là đem những thứ thuộc sở hữu của mình, những thứ mà cá nhân mình có đến cho người khác. Khi chúng ta cho đi như thế là chúng ta đã thắng được lòng ích kỷ của mình, chúng ta nghĩ đến người khác, muốn giúp đỡ người khác, muốn đem niềm vui và hạnh phúc đến cho người khác. Khi chúng ta cho đi, chúng ta không nghĩ rằng mình cho đi như thế để tìm niềm vui và hạnh phúc nhưng niềm vui và hạnh phúc vẫn đến với mình, không tìm cầu cũng tự nhiên đến.
        Đừng nghĩ rằng chúng ta phải giàu có, phải dồi dào về vật chất thì mới có thể cho đi và khi đó mới có được niềm vui và hạnh phúc từ sự cho đi ấy. Dù chúng ta nghèo khó, thiếu thốn đến đâu, miễn còn là một con người sống trong cuộc đời này thì chúng ta vẫn có nhiều “tài sản” để cho đi, vẫn đang sở hữu nhiều thứ để có thể cho đi và những thứ đó vẫn đem lại lợi ích, an vui và hạnh phúc cho người khác nếu chúng ta biết cách cho và biết cho đúng người, đúng lúc…”
                                                                     ( Hạnh phúc từ sự cho đi- Hoàng Minh Phú)
Thực hiện các yêu cầu:
  1. Chỉ ra điểm chung của mọi người được nói đến trong đoạn trích?
  2. Theo tác giả, con người đã tìm kiếm hạnh phúc bằng những cách nào?
  3. Theo anh/chị, việc tác giả nhiều lần sử dụng từ ngữ “Có người” góp phần mang lại hiệu quả nghệ thuật gì?
  4. Anh/chị có đồng tình với ý kiến: “ Đừng nghĩ rằng chúng ta phải giàu có, phải dồi dào về vật chất thì mới có thể cho đi và khi đó mới có được niềm vui và hạnh phúc từ sự cho đi ấy” không? V ì sao?
II. Làm văn (7 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
  Từ nội dung đoạn trích phần Đọc- hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về tình yêu thương.
Câu 2. (5 điểm)
Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, khi kể về cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra, nhà văn Tô Hoài đã miêu tả tâm trạng của nhân vật Mị: “ Ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi. Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi.” và những đêm tình mùa xuân đã tới, Tô Hoài miêu tả: “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi.”
    Phân tích tâm trạng Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi trong tâm trạng của nhân vật này.
HƯỚNG DẪN CHẤM  
Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC- HIỂU 3.00
1  Điểm chung của con người được nói đến trong đoạn trích là trong cuộc sống ai cũng mong có niềm hạnh phúc cho bản thân. 0.5
2 Theo tác giả mỗi người một vẻ, tùy theo sở thích, cá tính và điều kiện hoàn cảnh mà họ có cách tìm kiếm niềm vui riêng. Chính vì phương thức tìm kiếm niềm vui khác nhau nên tính chất của niềm vui ấy cũng không giống nhau, có những niềm vui tạm bợ, có những niềm vui lâu dài, có niềm vui nặng nề và cũng có những niềm vui siêu thoát… 0.75
  -Việc tác giả nhiều lần sử dụng từ ngữ “Có người” với vai trò là biện pháp tu từ nghệ thuật điệp ngữ kết hợp với  liệt kê.
- Sử dụng nhiều lần từ ngữ này làm cho đoạn văn mang tính gợi hình,  biểu cảm, tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu văn, có khả năng   làm nổi bật ý mà tác giả muốn đề cập: có nhiều cách thức tìm kiếm niềm vui khác nhau của con người trong cuộc sống.
0.75
 
 
4 - Học sinh có thể trả lời đồng tình hoặc không đồng tình, hoặc chỉ đồng tình một phần.
- Phải biết lí giải hợp lí, thuyết phục.
1.0
 
II   LÀM VĂN 7.0
1 Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân về tình yêu thương.  
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn:
- Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, song hành.
- Diễn đạt trôi chảy, không xuống dòng khi chưa kết thúc đoạn.
0.25
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình yêu thương. 0.25
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ suy nghĩ của bản thân về tình yêu thương. Có thể theo hướng sau:
-Tình yêu thương là một tình cảm tốt đẹp của con người. Nó thể hiện rõ nhất tư cách làm người. Tình yêu thương giúp con người sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, xóa nhòa ngăn cách, thù hận, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn…Tình yêu thương giữa người với người được thể hiện qua lời nói, thái độ, hành đông cụ thể, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, thử thách. Mỗi cá nhân ở những độ tuổi, hoàn cảnh, công việc khác nhau có những cách khác nhau để thể hiện tình yêu thương của mình.
- Từ việc hiểu rõ về tình yêu thương được gợi lên từ đề bài là dịp để thí sinh hoàn thiện bản thân để làm nhiều việc tốt, nhân lên nhiều tấm gương điển hình về tình nhân ái.
1.0
 
 
 
 
 
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp 0.25
e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, sâu sắc về vấn đề nghị luận 0.25
2     Phân tích tâm trạng Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi trong tâm trạng của nhân vật này. 5.0
a. Đảm bảo cấu trúc của bài văn nghị luận: Mở bài giới thiệu được vấn đề cần nghị luận, Thân bài triển khai được vấn đề nghị luận, Kết bài khái quát được vấn đề. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích tâm trạng Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi trong tâm trạng của nhân vật này. 0.25
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Cơ bản đảm bảo các nội dung sau:  
*Phân tích nhân vật Mị trong hai lần miêu tả:
Phân tích tâm trạng của Mị:Ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi. Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”.
- Diễn biến tâm trạng:
+ Khi bố Mị còn sống, Mị dã từng có ý định tự tử bằng lá ngón vì không thể chịu đựng nổi cuộc sống của người con dâu gạt nợ.
 Sau khi bố chết,  ở lâu trong nhà thống lí Pá Tra bị đọa đày về thể xác, bị áp chế về tinh thần, sống mà không bằng chết,  tâm hồn Mị đã trơ lì, chai sạn. Mị dường như đã quen với nỗi khổ đau bất hạnh mà mình phải gánh chịu và chấp nhận nó.
+ Mị sống như một cái xác vô hồn, chỉ biết vùi đầu vào những việc giống nhau, tiếp nhau, làm đi làm lại, làm việc cả đêm cả ngày. Lúc nào Mị cũng cúi măt. Mỗi ngày Mị càng không nói.
+ Cách Mị so sánh mình với con trâu, con ngựa: “Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa…ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi” cho ta thấy rõ dường như Mị đã là một con người vô cảm, an bài trước số phận.
-Ý nghĩa của tâm trạng nhân vật Mị: thể hiện cuộc sống tủi nhục, tối tăm của người lao  động nghèo vùng cao dưới sự áp bức thống trị của bọn chúa đất trong chế độ cũ.
3.0
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  .   Tâm trạng của Mị khi những đêm tình mùa xuân đã tới:Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi.”
- Diễn biến tâm trạng:
+ Sắc xuân cùng với những đêm tình mùa xuân đã về đem đến luồng sinh khí mới cho thiên nhiên và con người.
+ Những cảm xúc mới mẻ sau bao năm bị vùi lấp chợt ùa về trong Mị, làm cho Mị: “Thấy phơi phới trở lại” cho ta thấy tâm hồn Mị  đã được hồi sinh, đưa Mị trở về những ngày tháng tự do, êm đẹp ngày trước.
+ Tâm hồn tưởng như băng giá của Mị bây giờ đã có những cảm xúc  và khát vọng:“Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi.”. Như vậy không còn một cô Mị lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi,  mà thay vào đó là một cô Mị trẻ trung, yêu đời, ham sống.
+ Với cách dùng nhiều câu văn ngắn, từ ngữ biểu cảm, câu văn có tính tượng hình, giàu chất thơ, Tô Hoài đã diễn tả sinh động nhiều trạng thái cảm xúc vui sướng, hồi hộp liên tiếp ùa về làm sống dậy một tâm hồn tưởng như đã lụi tắt trong Mị.
-Ý nghĩa của tâm trạng Mị: thể hiện sức sống tiềm tàng, khao khát tự do, hạnh phúc mãnh liệt của nhân vật Mị, của đồng bào Tây Bắc trong quá trình đấu tranh chống lại giam hãm để đi tìm cuộc sống tự do.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
*Thấy được sự thay đổi của tâm trạng nhân vật
- Sự thay đổi tâm trạng của nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên Mị chính là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực: Từ vô cảm đến ý thức rõ về mình,  biết khao khát tự do, khao khát hạnh phúcTâm trạng đó được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật độc đáo: miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế, phù hợp với quy luật tâm lí, câu văn giàu hình ảnh.
- Qua hai lần miêu tả tâm trạng nhân vật Mị, và sự thay đổi tâm trạng nhân vật Mị, Tô Hoài thể hiện sự đồng cảm sâu sắc đối với cuộc sống tối tăm, tủi nhục của người dân nghèo vùng cao. Đồng thời nhà văn còn phát hiện sức sống tiềm tàng mãnh liệt của họ ngay cả khi họ bị thực dân và bọn chúa đất vùi dập, đọa đày một cách tàn bạo. Thái độ và sự phát hiện này góp phần làm cho tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
1.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp
 e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, sâu sắc về vấn đề nghị luận
0.5
* Lưu ý: 
Thí sinh có thể trình bày theo bố cục khác nhưng vẫn đảm bảo tính logic thì giám khảo căn cứ vào bài làm cụ thể để cho điểm một cách hợp lí.
Đặc biệt khuyến khích những bài làm sáng tạo, có những phát hiện riêng, mới mẻ, giàu sức thuyết phục.
 
 
                                           

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 40.68 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hải
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 26/04/2019 22:28
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    1
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

VĂN BẢN MỚI

Số: K/HLS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (26/11/2018)

Số: KẾ HOACH NGOẠI KHÓA lLỊCH SỬ 2018/06/KH-LS
Tên: (GIÁO DỤC TRUYỀN THỒNG YÊU NƯỚC CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN QUA DI SẢN VÀ DANH NHÂN ĐỊA PHƯƠNG I. MỤC ĐÍCH II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH III. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG)

Ngày BH: (01/02/2018)

Số: Số: 28/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập BCĐ viết Kỷ yếu, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (19/05/2017)

Số: Số: 29/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng truyền thống, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (19/05/2017)

Số: QUY ĐỊNH Về đạo đức nhà giáo- Số: 16/2008/QĐ-BGDĐT
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo)

Ngày BH: (15/04/2008)

Số: /QĐ-THPTN
Tên: (Quy tắc ứng xử trường THPT Nghèn)

Ngày BH: (05/03/2017)

Số: 19 /KH-CĐTHPTN
Tên: (Công đoàn THPT Nghèn)

Ngày BH: (19/02/2017)

Số: 04/KHTĐC - THPTN
Tên: (THPT Nghèn)

Ngày BH: (02/02/2017)

Số: - CTr/ĐBN
Tên: (Chương trình hành động thực hiện nghị quyết 04/NQ-TW)

Ngày BH: (05/01/2017)

Số: KẾ HOẠCH NGOẠI KHOÁ LỊCH SỬ NĂM 2016 - Số 05/ KH-LS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (09/12/2016)

Danh mục

Video clip

Hướng dẫn Export sổ điểm để ghi học bạ cho giáo viên bộ môn

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 1513 view

  Giải trí

1 photos | 1406 view

  Kỷ yếu

0 photos | 245 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 34
  • Hôm nay: 473
  • Tháng hiện tại: 23588
  • Tổng lượt truy cập: 2268676

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606