Rss Feed Đăng nhập

Dạy học Hai đứa trẻ theo hướng phát triển năng lực học sinh

Gửi lên: 26/04/2019 22:30, Người gửi: trannga, Đã xem: 22

Tên đề tài:  Dạy học Hai đứa trẻ theo hướng phát triển năng lực học sinh
                                                      Người báo cáo: Nguyễn Thị Hà
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
    Như chúng ta đã biết, việc đổi mới phương pháp dạy học là đòi hỏi tất yếu của giáo dục hiện nay – dạy học phát triển theo năng lực là xu thế đổi mới. Tuy nhiên việc tiếp cận tác phẩm văn học theo xu hướng đổi mới không phải là dễ, đòi hỏi chúng ta phải tìm tòi, học hỏi để tìm ra một phương pháp tiếp cận tác phẩm tối ưu nhất giúp học sinh lĩnh hội một cách dễ dàng nhất nhưng đạt hiệu quả cao. Bởi vì hiện nay môn Văn trong nhà trường đang có xu hướng bị xem nhẹ. Học sinh không còn hứng thú học Văn mà xem như đó là môn học bắt buộc. Vì thế, chất lượng học Văn đã giảm sút đáng kể. Học sinh không còn yêu thích môn Văn mà chạy theo những môn thời thượng như tiếng Anh, Tin học... Chính vì thế càng đòi hỏi giáo viên dạy Văn phải đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo được giờ học thu hút học sinh, làm cho học sinh mong chờ đến tiết học... Đồng thời còn giúp các em nhận thức được rằng:  Cái đích cuối cùng của văn học là học làm người. Học văn không chỉ để biết mà còn để sống, để tự nâng mình lên thanh sạch hơn, cao thượng hơn, nhân văn hơn.
   Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết người giáo viên phải thiết kế được một bài giảng tốt trước khi lên lớp. Đó là lí do mà tôi xin trình bày một bài giảng cụ thể để quý thầy cô tham khảo, bài Hai đứa trẻ của Thạch Lam...Sở dĩ tôi chọn bài này để nghiên cứu vì Hai đứa trẻ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật và tâm hồn của Thạch Lam. Văn bản có rất nhiều cách để tiếp cận và tôi cũng đã tìm cho mình một cách tiếp cận tác phẩm ưng ý và  hiệu quả.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
    Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1 (chương trình chuẩn). Học sinh THPT khối lớp 11.
   Mục tiêu hướng đến là:
   - Xác lập cách dạy truyện ngắn Hai đứa trẻ đạt hiệu quả.
   - Hiểu một số đặc điểm cơ bản của thể loại truyện ngắn từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945.
   - Biết cách đọc- hiểu một tác phẩm hoặc một đoạn trích tự sự hiện đại theo đặc trưng thể loại.
                                          Nội dung
I.Cơ sở lí luận
1.Khái niệm về dạy học phát triển theo năng lực
    Dạy học phát triển theo năng lực là mô hình dạy học phát triển tối đa năng lực của người học, trong đó người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học trên nguyên lý:
- Lý luận gắn với thực tiễn.
- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

2. Dạy học định hướng phát triển năng lực.

 Việc dạy học định hướng năng lực được thể hiện ở trong các thành tố quá trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Ngoài các yêu cầu về mức độ như nhận biết, tái hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tình huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế. Các mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường.
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn. Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, học sinh sẽ được hình thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng không thể) tách biệt từng thành tố trong quá trình dạy học.
- Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa dạng gắn với thực tiễn.
- Về kiểm tra đánh giá: Về bản chất đánh giá năng lực cũng phải thông qua đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của HS trong các loại tình huống phức tạp khác nhau. Trên cơ sở này, các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau đề ra các chuẩn năng lực trong giáo dục tuy có khác nhau về hình thức, nhưng khá tương đồng về nội hàm. Trong chuẩn năng lực đều có những nhóm năng lực chung. Nhóm năng lực chung này được xây dựng dựa trên yêu cầu của nền kinh tế xã hội ở mỗi nước. Trên cơ sở năng lực chung, các nhà lí luận dạy học bộ môn cụ thể hóa thành những năng lực chuyên biệt.
 Khác với việc tổ chức hoạt động dạy học, các công cụ đánh giá cần chỉ rõ thành tố của năng lực cần đánh giá và xây dựng được các công cụ đánh giá từng thành tố của các năng lực thành phần.
II. Cơ sở thực tiễn.
1. Thực trạng môn Văn trong nhà trường:
  Hiện nay, việc học môn Văn trong nhà trường không còn được HS chú trọng. Các em tỏ ra hờ hững, chán nản trong giờ học nhất là những tác phẩm văn xuôi  dài như truyện, tiểu thuyết… Vì vậy mà chất lượng môn học không cao: bài viết sơ sài, nguệch ngoặc mấy dòng cho có làm; chữ viết sai chính tả trầm trọng, câu cú chẳng có, kiến thức trống rỗng, bài  làm vô cảm, thậm chí đến phương pháp làm văn nghị luận các em cũng không nắm được… Quả đây là bài toán nan giải cho những giáo viên dạy Văn. Càng khó khăn càng đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em yêu thích môn Văn, mong chờ đến tiết học. Đó là một thành công không nhỏ.
2.Thực tế dạy học tác phẩm Hai Đứa Trẻ hiện nay
 Hiện nay việc dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ đang gặp rất nhiều khó khăn, giáo viên đang còn lúng túng trong việc tìm ra câu hỏi, phương pháp phù hợp nhất để phát huy tính tự học cho học sinh. Từ trước đến nay hầu như giáo viên còn sử dụng phương pháp truyền thống,  các câu hỏi đưa ra chưa có tính gợi mở nhiều, thậm chí có những câu hỏi khó, yêu cầu quá cao, gây không ít trở ngại cho học sinh... Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài này cho phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm tạo sự hứng thú hấp dẫn để từ đó các em yêu thích môn học.
*Về phía học sinh:
  Từ bài viết của học sinh, tôi nhận thấy đa số các em hiểu và cảm nhận tốt văn bản ( 80%  điểm trung bình trở lên).
   Kiểm tra vở soạn và vở bài tập về nhà, các em đều soạn bài và làm bài tập đầy đủ. Các em nắm được bài giảng rất tốt. Điều đó cho thấy môn Văn không phải là môn nhàm chán, khô khan đối với các em ( kể cả HS cá biệt và HS ban tự nhiên).
Áp dụng bài giảng này, tôi thấy tiết dạy có hiệu quả hơn hẳn ( cả việc dạy và học). Các em tích cực tham gia xây dựng bài, tập trung nghe giảng và biết cảm thụ cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương… Vì thế lớp học sôi nổi, sinh động hẳn lên.
*Về phía giáo viên: Bản thân tôi đã học hỏi từ thầy cô, bạn bè đồng nghiệp đầu tư soạn giảng để nâng cao chất lượng giảng dạy, khơi gợi hứng thú, sáng tạo của học sinh, làm sao vừa đáp ứng được nội dung kiến thức vừa  đảm bảo thời gian quy định, rèn luyện tư duy sáng tạo của học sinh, tránh hiện tượng đọc chép, áp đặt kiến thức…
  Với bài giảng được đầu tư, người dạy sẽ tự tin hơn, hứng thú hơn, có cảm xúc, có tâm thế.
III.Giáo án thể nghiệm:
                                             Hai đứa trẻ
                                                           ( Thạch Lam)
  A.Mục tiêu bài học:
1.Về kiến thức :
- Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ
- Niềm xót xa, thương cảm của nhà văn đ/v cuộc sống quẩn quanh, tù túng của những con người nghèo nơi phố huyện và sự trân trọng, nâng niu những khát vọng nhỏ bé nhưng tươi sáng của họ.
- Tp đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, chất thơ; là truyện tâm tình với lối kể thủ thỉ như một lời tâm sự.
2.Về kĩ năng :
- Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
- Phân tích tâm trạng nhân vật trong tp tự sự
3.Về thái độ : yêu thương, trân trọng những con người nghèo khổ
4.Định hướng phát triển năng lực:
–  Năng lực chung: NL giải quyết vấn đề, NL hợp tác, NL tự học, NL sáng tạo.
–  Năng  lực đặc thù: NL giao tiếp bằng ngôn ngữ, cảm thụ văn học, tạo lập văn bản.
-  Năng lực  rèn luyện phương pháp đọc hiểu, phương pháp diễn dịch, qui nạp, phân tích, phân tích- tổng hợp, tích hợp,… để khai thác vấn đề, lí giải vấn đề, giúp học sinh tiếp cận văn bản từ nhiều phía và có thể vận dụng vào thực tế.
- Năng lực rèn luyện phương pháp tổng hợp: sử dụng các hình ảnh, phim, tư liệu có sẵn trên internet kết hợp giảng dạy của bản thân, thực tế diễn ra trên lớp học và các ý kiến đóng góp của thầy cô.
- Năng lực rèn luyện Phương pháp thực nghiệm: thử nghiệm cách dạy qua giờ dạy thực tế trên lớp để rút kinh nghiệm và cải tiến phù hợp cho những lớp sau.
- Năng lực rèn luyện Phương pháp trao đổi, thảo luận: cùng nghiên cứu, cung cấp kết quả thảo luận với các thầy cô trong tổ cũng như những đồng nghiệp khác.
B. Chuẩn bị của Gv và Hs :
1.Chuẩn bị của giáo viên:
 -  Giáo viên đọc kĩ văn bản trong sách giáo khoa và nghiên cứu kĩ sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 11
-  Sưu tầm một số tranh ảnh minh họa cho bài giảng như ảnh Thạch Lam, mộ Thạch Lam, ảnh minh họa văn bản… Tìm đọc một số tác phẩm khác của Thạch Lam như Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan… tham khảo những bài viết, những tài liệu tham khảo liên quan đến bài giảng …
- Chuẩn bị các Slide Power Point hoặc bảng phụ để hỗ trợ cho bài giảng thêm  sinh động, tạo hứng thú cho học sinh.
 - Cuối cùng là soạn giáo án. Trước khi lên lớp giáo viên phải chuẩn bị  giáo án kĩ càng, nghĩa là chuẩn bị đầy đủ hợp lí phương pháp và nội dung giảng dạy, dự kiến tiết dạy.
2. Chuẩn bị của học sinh: 
  ( Phần này yêu cầu học sinh  chuẩn bị ở nhà)
- Yêu cầu học sinh đọc trước văn bản ở nhà, nắm được cốt truyện, chủ đề của tác phẩm và tóm tắt được nội dung tác phẩm.
-  Trả lời những câu hỏi ở phần  Hướng dẫn học bài  trong sách giáo khoa. Đây  là yêu cầu thiết thực bắt buộc các em phải đọc, phải suy nghĩ, tìm hiểu kiến thức mới trả lời được.
+Việc chuẩn bị ở nhà đòi hỏi ở ý thức tự giác, tích cực của học sinh. Nhưng nếu được sự khuyến khích, động viên, gợi mở… của giáo viên thì việc chuẩn bị của các em sẽ tốt hơn. Điều đó góp phần không nhỏ trong quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh.
C. Các hoạt động khác.                                       
 I. Hoạt động 1: Hoạt động khởi động. Cho học sinh đóng đoạn kịch ( đoạn hai chị em Liên chờ tàu). Gv hỏi: đoạn kịch trên thuộc tác phẩm nào? Đoạn nào của tác phẩm?
Hs trả lời, gv dẫn vào bài mới:  Nói đến xu hướng văn học lãng mạn Việt Nam  giai đoạn 1930 – 1945, chúng ta không thể không nói đến nhà văn Thạch Lam. Thạch Lam chỉ  sáng tác trong khoảng 6 năm  và mất khi mới 32 tuổi;  nhưng ông đã  có những đóng góp tích cực đối với nền văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện đại hóa. Ông là cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc, đã đem đến cho văn học một phong cách nghệ thuật truyện ngắn độc đáo với tư tưởng nhân đạo, sâu sắc mới mẻ. Điều đó được  thể hiện qua truyện ngắn  “Hai đứa trẻ”.
 II. Hoạt động 2: HĐ hình thành kiến thức mới.
     Phương pháp thực hiện:GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi.
Hoạt động của Gv và Hs                       Nội dung cần đạt
Thao tác  1: Hướng dẫn hs tìm hiểu chung
 Em hãy nêu những nét cơ bản về tác giả Thạch Lam.
GV giảng: - Đó là một phố huyện nghèo có chợ, ga xếp đêm đêm có một chuyến tàu chạy qua đã nhiều đêm trong tâm trí Thạch Lam  trở thành không gian nghệ thuật trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của ông.
– Chính đặc điểm con người đã làm nên giá trị nhân đạo và ngòi bút nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của tâm hồn con người trong văn Thạch Lam.

GV: Trình chiếu về tranh của Thạch Lam, các sáng tác của ông.
 
 
 
 
 
 
 Nêu xuất xứ, vị trí của tác phẩm?.

GVgiảng: Tác phẩm viết trước Cách mạng tháng Tám,năm 1945. Đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, đời sống nhân dân cực khổ, lầm than.  Trong khi  các nhà văn hiện thực phản ánh hiện thực trên tinh thần tố cáo, lên án xét  thì các nhà văn lãng mạn chủ yếu bộc lộ cảm xúc buồn chán trước hiện thực, thể hiện khát vọng thay đổi cuộc sống.
 Em hãy nêu chủ đề tác phẩm?
 
Theo em, truyện ngắn này có thể chia làm mấy phần?

HS trả lời.
GV chia bố cục tác phẩm.
 
 
 
Thao tác 2:Hướng dẫn hs đọc-hiểu văn bản.

( Gv: Có thể phân lớp thành 2 nhóm: cho hs vẽ bức tranh bằng trí tưởng tượng của mình đã được chuẩn bị ở nhà… sau đó gọi đại diện nhóm thuyết trình).
 
HS chuẩn bị bài thuyết trình theo nhóm (3 phút)
Trả lời: GV gọi đại diện 2 nhóm thuyết trình, sau đó GVgọi các nhóm nhận xét về phần trình bày của nhau, gv nhận xét và chốt lại
Bức tranh thiên nhiên phố huyện lúc chiều tàn được nhà văn khắc hoạ qua những chi tiết nào?

Gợi mở:
–   Những âm thanh nào? Nghệ thuật gì?

GV bình: Câu văn mở đầu dịu dàng như một lời thơ đã gợi ra không khí buồn vắng, hắt hiu của  phố huyện nhỏ ở một  nơi khuất nẻo.
 Nhận xét ngòi bút miêu tả cảnh thiên nhiên của Thạch Lam? Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên nà
GV bình: Trong đoạn văn tả cảnh thiên nhiên, Thạch Lam đã viết những câu văn giàu chất thơ, chất nhạc:  “ Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru”. Câu văn toàn thanh bằng, nhịp chậm, điệp từ “chiều”, từ láy, NT so sánh tinh tế  đã gợi không khí một buổi chiều quê êm đềm thơ mộng mang cốt cách Việt Nam® Thể hiện sự nâng niu trân trọng của Thạch Lam với những gì là hồn xưa của dân tộc.
Trước giờ khắc ngày tàn ấy, tâm trạng của Liên như thế nào? Tìm những chi tiết miêu tả tâm trạng của Liên? 
(Gợi mở: tư thế, dáng vẻ,  tâm hồn)

GV bìnhĐến đây chúng ta đã thấy rõ nét đặc trưng trong văn Thạch Lam ở sự kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và hiện thực. Nếu ở cảnh chiều tàn, ngòi bút Thạch Lam thật lãng mạn trữ tình thì ở cảnh chợ tàn, nhà văn lại dùng ngòi bút tả thực.
Vậy tâm trạng của Liên trước cảnh chợ tàn như thế nào? Cảm nhận của em về  vẻ đẹp tâm hồn của Liên.
Tìm những chi tiết miêu tả về cảnh chợ tàn? Qua đó bộc lộ tâm trạng gì của Liên
GV dẫn dắt: Trên nền cảnh chiều tàn, chợ tàn, tác giả còn khắc hoạ hình ảnh những kiếp người tàn.
Những kiếp người tàn là ai? Cuộc sống của họ như thế nào??
GV gợi mở:
– Chị em Liên: Hoàn cảnh sống trước kia và  hiện nay?– Những đứa trẻ nhà nghèo?
GV giảng: Những đứa trẻ  tâm hồn ngây thơ trong sáng đáng lẽ phải được nuôi dưỡng, được đến trường. Nhưng ở đây chúng phải tự kiếm sống, phải sớm từ giã tuổi thơ thật tội nghiệp, đáng thương. Ta thấy ẩn sau những hình ảnh  đó là tấm lòng xót xa, đầy thương cảm của Thạch Lam.

– Mẹ con chị 
– Cụ Thi ?
Vì sao chị em Liên đợi tàu
CH: Chuyến tàu có ý nghĩa ntn?
 Nhận xét nghệ thuật khắc hoạ hình ảnh con người? ( Gợi mở: cử chỉ, hành động, đối thoại, đồ vật vây quanh). Cảm nhận của em về cuộc sống của con người  nơi phố huy
GV giảng bình: Hình ảnh những con người hiện ra qua con mắt của Liên  như một vòng đời của phố huyện. Nếu cuộc sống không có gì thay đối thì tương lai của Liên và An sẽ ra sao? Hay chỉ là sự tàn tạ cả về thể xác và tinh thần? Vẽ ra tương quan giữa hai đứa trẻ  trên một thế giới già nua như hai mầm cây non trên một mảnh đất khô cằn bạc phếch, liệu chúng có thể  trưởng thành, khoẻ mạnh hay chúng sẽ sớm tàn tạ, héo úa! Đây chính là tấm lòng trắc ẩn mênh mông, một sắc thái riêng trong tư tưởng nhân đạo của Thạch Lam.
GV chuyển ý: Trong số những con người phố huyện ấy, ai là người khổ  nhất, vì sao? Có lẽ Liên  là người khổ nhất. Bởi vì Liên không chỉ thiếu thốn về vật chất mà Liên còn  thiếu thốn về tinh thần. Liên rất nhạy cảm, biết buồn thương trước  cuộc sống hiện tại của mình và những người dân  nơi đây.
Tâm trạng của Liên trước những kiếp người tàn nơi phố huyện như thế nào? (Gợi mở: Nhìn những đứa trẻ, nhìn chị Tí, cụ Thi). Qua đó, nêu cảm nhận của em về  vẻ đẹp tâm hồn của Liên.
 Qua tìm hiểu tâm trạng của nhân vật Liên trước cảnh chiều tàn, chợ tàn và những kiếp người tàn, em có nhận xét gì về bút pháp  nghệ thuật? Tác giả thể hiện tư tưởng gì?
HS trả lời, giáo viên chốt lại bằng máy chiếu, trình chiếu các hình ảnh…
 
 
 
 
 
 
 

Tìm những chi tiết tả cảnh và nhân xét?

HS trả lời.
GV bình:

– Bóng tối được miêu tả nhiều trạng thái khác nhau, có mặt suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Gợi cho người đọc thấy một kiếp sống bế tắc, quẩn quanh của người dân phố huyện nói riêng và nhân dân trước cách mạng tháng Tám nói chung. Đó là biểu tượng của những tâm trạng vô vọng, nỗi u hoài trong tâm thức của một kiếp người.
 Khi đêm xuống, phố huyện xuất hiện thêm những ai?
GV bình:  Biểu tượng ngọn đèn dầu nơi phố huyện.
– Ngọn đèn dầu được nhắc hơn 10 lần trong tác phẩm.
à Tất cả không đủ chiếu sáng, không đủ sức phá tan màn đêm, mà ngược lại nó càng làm cho đêm tối trở nên mênh mông hơn, càng ngợi sự tàn tạ, hắt hiu, buồn đến nao lòng.
– Ngọn đèn dầu là biểu tượng về kiếp sống nhỏ nhoi, vô danh vô nghĩa, lay lắt. Một kiếp sống leo lét mỏi mòn trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ, không hạnh phúc, không tương lai, cuộc sống như cát bụi. Cuộc sống ấy cứ ngày càng một đè nặng lên đôi vai mỗi con người nơi phố huyện.
– Cả một bức tranh đen tối. Những hột sáng của ngọn đèn dầu hắt ra giống như những lỗ thủng trên một bức tranh toàn màu đen.
Trước đêm tối tâm trạng Liên ntn?

 Vì sao chị em Liên đợi tàu?
 

 Chuyến tàu có ý nghĩa ntn?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 Gv hỏi: So sánh âm thanh và ánh sáng của đoàn tàu với âm thanh và ánh sáng nơi phố huyện bằng cách hoàn thành bảng sau:
  Gv phân lớp thành 2 nhóm, hoàn thành 2 bảng sau
 
Học sinh thảo luận theo nhóm (3 phút) và trả lời trong phiếu học tập.
Hs trả lời:
 GV gọi đại diện từng nhóm trình bày. Sau đó các nhóm nhận xét, bổ
sung, gv chố
 Nghệ thuật đối lập giữa âm thanh và ánh sáng của đoàn tàu với âm thanh và ánh sáng nơi phố huyện có ý nghĩa gì?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thao tác 3: Hướng dẫn tổng kết.
Nêu những đạc sắc NT và Ý nghĩa của truyện?


 
I/ Tìm hiểu chung:
1/ Tác giả
 Thạch Lam (1910 – 1942), tên thật là Nguyễn Tường Vinh (Nguyễn Tường Lân) sinh tại Hà Nội, thuở nhỏ sống ở quê ngoại: phố huyện Cẩm Giàng – Hải Dương.
Con người: là người đôn hậu, tinh tế.
– Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn.
– Quan điểm sáng tác: lành mạnh, tiến bộ.
– Có biệt tài về truyện ngắn: có phong cách nghệ thuật độc đáo:
+ Truyện không cú chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm với những xúc cảm mong manh, mơ hồ.
+ Mỗi truyện như­ một bài thơ trữ tình đư­ợm buồn, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm mến yêu chân thành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và lòng người
+ Văn phong trong sáng, giản dị, thâm trầm, sâu sắc.
– Tác phẩm chính:
+ Các tập truyện ngắn: “Gió đầu mùa” (1937), “Nắng trong vườn” (1938), “Sợi tóc” (1942).
+ Tiểu thuyết : “Ngày mới” (1939)
+ Tập tiểu luận: “Theo dòng” (1941
+ Tuỳ bút: “Hà Nội băm sáu phố phường” 1943)
2/ Tác phẩm: 
– Xuất xứ: In trong tập “ Nắng trong vườn” (1938)
 Vị trí: Là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Thạch Lam, có sự hòa quyện hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình.
– Chủ đề: Bức tranh phố huyện nghèo  trước cách mạng táng Tám từ lúc chiều muộn đến đêm khuya  qua cái nhìn và tâm trạng của nhân vật Liên
– Bố cục:
Gồm 3 phần.
+ Phần 1: ( Từ đầu đến “ tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng ):Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn.
+ Phần 2: ( Tiếp theo đến “ chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.):Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện khi đêm vể.
+ Phần 3( còn lại): Tâm trạng của Liên trong cảnh đợi tàu lúc đêm khuya.
II. Đọc – hiểu văn bản.
1. Phần một: Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn.
a. Trước cảnh chiều tàn
* Cảnh:
– Âm thanh:
Tiếng trống thu không… từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều câu văn chậm rãi
-> điểm nhịp thời gian.
Tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve – những âm thanh đặc trưng của làng quê lấy động tả tĩnh  không khí vắng vẻ, đìu hiu, hoang vắng.
Miêu tả từ xa đến gần, nhỏ đần, tất cả như cộng hưởng tạo nên một bản nhạc đồng quê êm đềm
 – Màu sắc: Phương tây:
Đỏ rực như lửa cháy
Đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn.
Tính từ, so sánh màu sắc rực rỡ bùng cháy  trước khi tàn lụi  cảnh hoàng hôn sống động, báo hiệu một  ngày đã qua.
– Đường nét: Dãy tre làng đen lại cắt hình rõ rệt trên nền trời (ánh hồng). Nghệ thuật tương phản giàu chất hội họa , hoàng hôn dần buông xuống.

 
=> Bằng cảm hứng lãng mạn tinh tế, câu văn như câu thơ(Chiều,chiều rồi…), kết hợp hài hoà các chi tiết miêu tả âm thanh, màu sắc, đường nét, tác giả đã  gợi lên bước đi của thời gian từ, đồng thời gợi lên một bức tranh thiên nhiên thôn dã trong cái giờ khắc của ngày tàn: đẹp, êm đềm,  thơ mộng, đượm buồn mang hồn quê Việt Nam.

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
* Tâm trạng của Liên:
– Tư thế: Ngồi yên lặng , trầm tư suy nghĩ.
– Đôi mắt: Ngập đầy bóng tối , nổi buồn trào dâng
– Tâm hồn:
Ngây thơ mà buồn thấm thía.
Không hiểu sao nhưng thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc ngày tàn.
=>Từ tư thế, dáng vẻ đến tâm hồn cho thấy tâm trạng  của Liên: buồn trước bước đi của thời gian, trước cảnh thiên nhiên vắng lặng đìu hiu . Tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên.



 
 
b. Trước cảnh chợ  tàn:
* Cảnh :  một ngày chợ phiên
– Âm thanh: Chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu, người về hết, tiếng ồn ào cũng mất chỉ còn sự trống vắng, quạnh hiu
–  Hình ảnh: Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía những phế thải của một phiên  chợ quê nghèo.
– Mùi vị: Một mùi âm ẩm, hơi nóng ban ngày, mùi cát bụi . Cảm nhận bằng khứu giác mùi vị của đất quê hương. Phải chăng đó là mùi vị của nghèo khổ, lầm than, cơ cực?
=>Bằng ngòi bút tả thực, cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, và bằng cả tâm hồn tinh tế nhạy cảm, những chi tiết giàu sức gợi, cảnh chợ tàn gợi bức tranh sinh hoạt của phố huyện nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều.
* Tâm trạng của Liên:
 Cảm nhận mùi vị quen thuộc
– Tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương
=> tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, gắn bó với quê hương.
c/ Trước những kiếp người tàn:
 *Những kiếp người:
–  Liên và An:
+  Trước ở Hà Nội, từ khi bố mất việc, hai chị em về quê.
+ Mẹ giao trông coi một gian hàng tạp hoá  nhỏ xíu.
+ Chiều nào cũng dọn hàng, đếm hàng, tính tiền, ngồi trên cái chõng sắp gãy nhìn cảnh và người phố huyện.
+ Ngày chợ phiên mà chỉ bán được 2,5 bánh xà phòng, một cút rượu ti nhỏ
=>Gia cảnh khó khăn, sa sút, mức sống eo hẹp.
- Những đứa trẻ con nhà nghèocúi lom khom trên mặt đất, đi lại tìm tòi, nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, cái gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại đáng thương, tội nghiệp.
– Mẹ con chị Tý:
+ Ngày:  mò cua bắt tép.
+ Tối: lại dọn hàng nướcchả kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm. Cuộc sống cầm cự,cầm chừng trong vô vọng.
– Cụ Thihơi điên, xuất hiện với tiếng cười khanh kháchuống một hơi cạn sạch cút rượu ti rồi lảo đảo đi vào bóng tối  tàn tạ cả  thể xác và tinh thần.
=>Bằng ngòi bút tả thực, qua các chi tiết: cử chỉ, hành động chậm chạp;  đối thoại ít, rời rạc, giọng thấp như tiếng thở dài, bao quanh họ là những đồ vật tàn,..tác giả đã khắc hoạ hình ảnh những con người nhỏ bé, từ  trẻ đến già đều  nghèo khổ, chật vật, tàn tạ. Qua đó, tác giả thể hiện niềm xót thương  đối với cuộc sống của những người dân phố huyện trước Cách mạng tháng Tám: đó là tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

 
 
 
 
 
 
 
 
* Tâm trạng của Liên:
– Với những đứa trẻ con nhà nghèo:  động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.
– Với mẹ con chị Tí: Ân cần hỏi han.
– Với cụ Thi: lẳng lặng rót một cút rượu ti đầy, lòng hơi run sợ, mong cụ chóng đi.
Liên có tâm hồn nhạy cảm, nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn, yêu thương con người – nét đẹp tâm hồn  mà nhà văn nâng niu, trân trọng
=> + Nghệ thuật: kết hợp yếu tố hiện thực với yếu tố lãng mạn trữ tình; câu văn xuôi  như câu thơ, khéo kết hợp các chi tiết, nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế.
+ Nội dung:
– Thạch Lam đã phần nào phản ánh bức tranh hiện thực đời sống của người dân.
– Tác giả thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương với những kiếp người nhỏ bé, sống nghèo khổ, tàn tạ ở một  phố huyện  nhỏ trước Cách mạng tháng Tám,  trân trọng những nét đẹp tâm hồn của họ. Đó là giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của đoạn trích.
2/ Đoạn 2: Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc đêm khuya:.
a/ Khung cảnh và con người:
* Cảnh:
-  Bẩu trời:
- Hàng ngàn ngôi sao ganh nhau…
- Hoa bàng khẽ rụng…
– Thoảng qua gió mát.
-> Đẹp , êm đềm, tĩnh lặng- một đêm hạ êm như nhung.
– Mặt đất: ngập chìm trong bóng tối. Đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối.(…)
 Tương phản đối lập->bóng tối bao trùm tất cả, tràn ngập trong tác phẩm, tạo nên một bức tranh u tối, một không gian tù đọng, gợi cảm giác ngột ngạt.
* Nhịp sống của những người dân: Có thêm
+ Đêm về bác phở Siêu xuất hiện.
+ Trong bóng tối gia đình bác hát Sẩm kiếm ăn.
->lặp đi lặp lại đơn diệu, buồn tẻ với  những động tác quen thuộc, những suy nghĩ mong đợi như mọi ngày.  Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày”


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
b. Tâm trạng của Liên :
 Liên và An lặng lẽ ngắm các vì sao, lặng lẽ quan sát những gì diễn ra ở phố huyện và xót xa cảm thông, chia sẻ với những kiếp người nhỏ nhoi sống lay lắt trong bóng tối của cơ cực đói nghèo, tù đọng trong bóng tối của họ.
– Nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp ở Hà Nội.
 Nỗi buồn cùng bóng tối đã tràn ngập trong đôi mắt Liên, nhưng trong tâm hồn cô bé vẫn dành chỗ cho một mong ước, một sự đợi chờ trong đêm.
3. Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua:
* Hình ảnh chuyến tàu:
– Hình ảnh con tàu lặp 10 lần trong tác phẩm.
– Chuyến tàu đêm qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày của chị em Liên.
+ Mang đến một thế giới khác: ánh sáng xa lạ, âm thanh nao nức, tiếng ồn ào của khách…khác và đối lập với nhịp điệu buồn tẻ nơi phố huyện.
+ Chuyến tàu ở Hà Nội về: trở đầy ký ức tuổi thơ của hai chị em Liên, mang theo một thứ ánh sáng duy nhất, như con thoi xuyên thủng màn đêm, dù chỉ trong chốc lát cũng đủ xua tan cái ánh sáng mờ ảo nơi phố huyện.
– Việc chờ tàu trở thành một nhu cầu như cơm ăn nước uống hàng ngày của chị em Liên. Liên chờ tàu không phải vì mục đích tầm thường là đợi khách mua hàng mà vì mục đích khác:
+ Được nhìn thấy những gì khác với cuộc đời mà hai chị em Liên đang sống.
+ Con tàu mang đến một kỷ niệm, đánh thức hồi ức về kỷ nịêm mà chị em cô đã từng được sống.
+ Giúp Liên nhìn thầy rõ hơn sự ngưng đọng tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối hèn mọn, nghèo nàn  của cuộc đời mình
Liên là người giàu lòng thương yêu, hiếu thảo và đảm đang. Cô là người duy nhất trong phố huyện biết ước mơ có ý thức về cuộc sống. Cô mỏi mòn trong chờ đợi.
Ý nghĩa biểu tượng của chuyến tàu đêm:
– Hình ảnh con tàu lặp 10 lần trong tác phẩm.
Là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và sự rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh với người dân phố huyện.
Qua tâm trạng của Liên tác giả muốn lay tỉnh ngững người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là giá trị nhân bản của truyện ngắn này.
Đó là  biểu tượng cho một cuộc sống sôi động, nhộn nhịp, vui vẻ, hiện đại. Dù chỉ trong giây lát nó cũng đưa cả phố huyện thoát ra khỏi cuộc sống tù đọng, u ẩn, bế tắc.
Bảng 1:
Âm thanh                                        
      Đoàn tàu                      Phố huyện
            ……………….                  ……………………
   
 
 
 Bảng 2:
Ánh sáng
                 Đoàn tàu                  Phố huyện
             …………………             …………………..
   
 
Bảng 1:
 
Âm thanh
Đoàn tàu             Phố huyện
Còi xe lửa kéo dài
 
Tiếng trống thu không từng tiếng một
Tiếng dồn dập
 
Tiếng ếch nhái
Tiếng rít mạnh vào ghi
 
Tiếng muỗi bay vo ve
 
Còi rít lên
 
Tiếng đàn bầu bật trong yên lặng
Tàu rầm rộ đi tới
 
 
-> Âm thanh huyên náo, sôi động.
 
-> Âm thanh đơn điệu, buồn bã.
 
Bảng 2:
Ánh sáng
 
Đoàn tàu
 
Phố huyện
Ngọn lửa xanh biếc
 
Khe sáng
Khói bừng sáng trắng
 
Quầng sáng
Đèn sáng trưng
 
Chấm nhỏ và vàng lơ lửng
Đồng và kền lấp lánh
 
Thưa thớt từng hột sáng
Các cửa kính sáng
 
 
-> Ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ.
 
-> Ánh sáng yếu ớt, tù mù.
 
Hs trả lời: Ý nghĩa:
 - Âm thanh sôi động của đoàn tàu khuấy động sự yên tĩnh của phố huyện.
 - Ánh sáng rực rỡ của đoàn tàu xua đi bóng tối mênh mông của phố huyện trong chốc lát
-> Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua
III. Tổng kết :
Nghệ thuật:
– Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh, mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.
– Bút pháp tương phản đối lập.
– Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng của con người.
– Ngôn ngữ giàu hình ảnh, tượng trưng.
– Giọng điệu thủ thỉ, thấm đượm chất thỏ chất trữ tình sâu sắc.
Ý nghĩa văn bản:
Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước nhỏ bé, bình dị mà tha thiết của họ. 
 
Hoạt động 3: HĐ thực hành
Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách phát phiếu học tập, HS viết tại lớp, TĐTL
GV phát phiếu Bài tập:    So sánh Hai đứa trẻ với Tắt đèn, Lão hạc ( đã học ở chương trình THCS) để thấy con người và xã hội trong những năm  trước cách mạng tháng Tám năm 1945?
 Đáp án gợi ý:
+ Điểm chung: Cái nhìn hiện thực và nhân đạo đối với xã hội VN đang chìm đắm trong cảnh nô lệ, lầm than.
+ Nét riêng: Phong cách và bút pháp nghệ thuật của các nhà văn: Hiện thực – L.mạn
GV hướng dẫn HS làm BT.
Hoạt động 4 : Hoạt động  ứng dụng
    Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà  chuẩn bị, giáo viên kiểm tra, cho học sinh thảo luận trên lớp.
* Câu hỏi: Phân tích bút pháp lãng mạn của Thạch Lam thể hiện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
 Dặn dò:
Về nhà học, làm bài và chuẩn bị bài tiếp theo.
                                                Kết luận                                 
 Trong tiến trình giảng dạy, tôi nhận thấy nếu GV chuẩn bị bài giảng tốt thì hiệu quả tiết dạy sẽ rất cao. Đồng thời, bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn nếu chúng ta có sự hỗ trợ của những hình ảnh hay đoạn phim ngắn, những bảng phụ, bảng biểu… Và sự thành công của tiết dạy chính là thu hút được sự chú ý, hứng thú của HS. Các em chủ động, tích cực, sáng tạo trong giờ học và say mê, yêu thích nó. Đó chính là phần thưởng xứng đáng đối với người GV. 
 Tuy nhiên, đề tài tôi vừa trình bày chỉ là suy nghĩ của cá nhân, chắc chắn còn nhiều thiếu xót. Rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của đồng nghiệp để bài giảng hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
  

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 157.50 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: Nguyễn Thị Hà
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 26/04/2019 22:37
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    6
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

VĂN BẢN MỚI

Số: K/HLS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (26/11/2018)

Số: KẾ HOACH NGOẠI KHÓA lLỊCH SỬ 2018/06/KH-LS
Tên: (GIÁO DỤC TRUYỀN THỒNG YÊU NƯỚC CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN QUA DI SẢN VÀ DANH NHÂN ĐỊA PHƯƠNG I. MỤC ĐÍCH II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH III. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG)

Ngày BH: (01/02/2018)

Số: Số: 28/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập BCĐ viết Kỷ yếu, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (19/05/2017)

Số: Số: 29/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng truyền thống, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (19/05/2017)

Số: QUY ĐỊNH Về đạo đức nhà giáo- Số: 16/2008/QĐ-BGDĐT
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo)

Ngày BH: (15/04/2008)

Số: /QĐ-THPTN
Tên: (Quy tắc ứng xử trường THPT Nghèn)

Ngày BH: (05/03/2017)

Số: 19 /KH-CĐTHPTN
Tên: (Công đoàn THPT Nghèn)

Ngày BH: (19/02/2017)

Số: 04/KHTĐC - THPTN
Tên: (THPT Nghèn)

Ngày BH: (02/02/2017)

Số: - CTr/ĐBN
Tên: (Chương trình hành động thực hiện nghị quyết 04/NQ-TW)

Ngày BH: (05/01/2017)

Số: KẾ HOẠCH NGOẠI KHOÁ LỊCH SỬ NĂM 2016 - Số 05/ KH-LS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (09/12/2016)

Danh mục

Video clip

Hướng dẫn Export sổ điểm để ghi học bạ cho giáo viên bộ môn

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 1513 view

  Giải trí

1 photos | 1406 view

  Kỷ yếu

0 photos | 245 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 7
  • Khách viếng thăm: 6
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 434
  • Tháng hiện tại: 23549
  • Tổng lượt truy cập: 2268637

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606