Rss Feed Đăng nhập

Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua bài thơ"Tỏ lòng"của Phạm Ngũ Lão

Gửi lên: 26/01/2019 07:31, Người gửi: trannga, Đã xem: 4241
                                   Báo cáo chuyên đề tháng 12/2018  
Tên chuyên đề :                
    Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua bài thơ"Tỏ lòng"của Phạm Ngũ Lão
                                                           Người thực hiện : Nguyễn Thị Hương Quế
 
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài  
   Qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước đã trở thành một trong những tài sản quý, một giá trị thiêng liêng góp phần làm nên truyền thống dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:“... Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước... ”.Văn học yêu nước cũng chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông, ở hầu hết các tác phẩm văn học. Từ việc thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức độc lập tự chủ, tự hào dân tộc, đến tình yêu thiên nhiên đất nước...
   Vì thế, việc giảng dạy lòng yêu nước qua các tác phẩm văn học không chỉ làm cho học sinh hiểu và cảm nhận được nội dung của tác phẩm, mà còn có khả năng cảm nhận về đất nước, lịch sử dân tộc ngàn đời của cha ông ta. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng và nhà nước về việc giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức cho thế hệ trẻ: vừa hồng vừa chuyên như lời Bác Hồ hằng mong ước.
    Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 có rất nhiều văn bản để tích hợp giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, nhưng với nhiều năm giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 10 bản thân tôi nhận thấy dạy bài Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão đặc biệt là dạy tích hợp Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là rất hay nhưng khó.Việc học sinh hiện nay còn rất mơ hồ về lòng yêu nước và hình thành lòng yêu nước, tự hào dân tộc còn rất ít thậm chí còn thờ ơ, chán với những bài thơ xưa.
Bản thân tôi hi vọng rằng qua kinh nghiệm giảng dạy“Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão”giúp các em có cách nhìn mới về nội dung của bài và hình thành thêm về lòng yêu nước, tự hào dân tộc.
2. Mục đích nghiên cứu
 - Giúp học sinh hiểu được khái niệm và đặc điểm yêu nước qua từng giai đoạn.
 - Biểu hiện cụ thể của nội dung yêu nước qua văn học trung đại.
 - Nội dung yêu nước qua bài Tỏ lòng.
 - Nhằm giáo dục lòng yêu nước, hình thành nhân cách cho học sinh qua bài học.
3. Giới hạn và phạm vi
 - Giới hạn: Giáo viên lớp 10 tham khảo để giáo dục đạo đức cho học sinh.
                   Học sinh lớp 10 dùng để học tập và hình thành nhân cách cho bản thân.
 - Phạm vi: Áp dụng trong các bài thuộc phần văn bản lớp 10.
4. Thực trạng
- Trong các nhà trường hiện nay việc dạy học phần văn thơ Trung đại vẫn còn qua loa, đại khái, vì lí do đây là phần văn học khó, và lại liên quan đến chữ Hán do vậy giáo viên còn ngại tìm hiểu, chỉ dạy phần dịch thơ, còn phần phiên âm thì bỏ qua điều này đã không làm nổi bật lên ý nghĩa của bài thơ. Đồng thời thông qua bài dạy vẫn chưa giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc… cho học sinh.
 - Trong thực tế bài Tỏ lòng giáo viên khi dạy chỉ bám vào phần dịch thơ nhưng quên mất phần chữ Hán, mà đâu biết rằng không có phần chữ Hán thì không làm nổi bật cái hồn của bài thơ.
VD: Qua bài Tỏ lòng nếu giáo viên không so sánh  phần dịch thơ với phần phiên âm, thì chưa làm nổi bật lên hình ảnh người tráng sĩ trong 2 câu đầu.
                              “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”
                       Với “Múa giáo non sông trải mấy thu”
   So sánh ta thấy phần dịch thơ dịch chưa chuẩn xác: "Hoành sóc" không phải là múa giáo mà là cầm ngang ngọn giáo. Câu thơ thể hiện vẻ đẹp con người trong tư thế hành động, có tầm vóc lớn lao, kỳ vĩ.
 + "Múa giáo non sông" thể hiện một tư thế hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, lập nên chiến công huy hoàng.
 + Chiến đấu không mệt mỏi: "trải mấy thu".Vẻ đẹp này là sự kết tinh sức mạnh của thời đại, của dân tộc.
- Hiện nay nhiều học sinh thờ ơ, thậm chí còn chán học văn, kể cả tác phẩm văn học Trung đại như: bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi... Một số tác phẩm đã là niềm tự hào của đất nước, dân tộc, học sinh cũng không  mấy quan tâm, thậm chí là ghét... Học sinh bây giờ thích xem phim, nghe ca nhạc nước ngoài hơn cả những tác phẩm văn học thấm đẫm tinh thần yêu nước.
 - Thực tế thời gian trên lớp rất ít với thời lượng 45 phút chưa đủ thời gian để dạy nội dung của bài cho nên giáo viên thường bỏ qua việc dạy tích hợp giáo dục lòng yêu nước cho học sinh.
   Đối với bản thân tôi là giáo viên đã nhiều năm dạy bài này chúng tôi cũng thấy rất vất vả trong việc dạy bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.Với bài này vừa giúp học sinh hiểu về hoàn cảnh thực tế xã hội nước ta lúc bấy giờ, vừa giúp học sinh hiểu phần chữ Hán và dịch nghĩa thông qua đó còn giáo dục lòng yêu nước cho học sinh.
5. Giải pháp
  Có nhiều cách chúng ta giải quyết vấn đề này như qua sách báo, thầy cô, kiến thức trên Internet.... Nhưng tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua bài học này:
- Giáo viên:
 + Cần chuẩn bị kĩ về kiến thức trong sách vở và xã hội.
 + Gần gũi, quan tâm, chia sẻ với  học sinh.
 + Khi dạy phần kiến thức nào thì liên hệ kiến thức ở phần đó.
+ Đưa ra các câu hỏi thảo nhóm để học sinh tự do phát biểu quan điểm của mình
VD: Dạy phần tìm hiểu chung giáo viên có thể liên hệ cho học sinh tự hào về tác giả Phạm Ngũ Lão, vì ông là người văn võ song toàn, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên.
- Học sinh:
+ Cần đọc kĩ kiến thức trong sách giáo khoa.
+ Có kiến về lịch sử nước ta thời kì đó.
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp điều tra.
 - Bản thân tôi đã điều tra học sinh qua công tác giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 10.
- Dự giờ học hỏi đồng nghiệp rút kinh nghiệm .Từ đó tổng hợp để đi đến những kết luận cụ thể.
6.2. Thảo luận nhóm.
- Trong khi giảng dạy vừa có câu hỏi phát hiện tôi kết hợp các câu hỏi gợi mở để học sinh để thảo luận nhóm.
6.3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Là nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu, bài giảng liên quan.
6.4. Phương pháp nêu vấn đề.                        
- Giáo viên nêu vấn đề cho học sinh suy nghĩ, trao đổi trả lời, giáo viên chốt kiến thức.
                                                         
                                              B. NỘI DUNG
1. Những vấn đề chung về lòng yêu nước.
 1.1. Khái niệm :  Lòng yêu nước là tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ lợi ích của Tổ quốc. (Theo sách GDCD 10 Trang 96)
  1.2.  Đặc điểm chung của lòng yêu nước .
- Lòng yêu nước là gắn liền lí tưởng “trung quân ái quốc” (trung với vua là yêu nước, yêu nước là trung với vua )
- Lòng yêu nước thể hiện ý thức độc lập tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc.
- Lòng yêu nước là thể hiện  lòng căm thù giặc, tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù.
- Lòng yêu nước là tự hào trước chiến công thời đại, tự hào trước truyền thống lịch sử, biết ơn, ca ngợi những người hi sinh vì đất nước.
-  Lòng yêu nước là thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước.
 1.3 Biểu hiện cụ thể của nội dung yêu nước trong văn học trung đại .
 - Yêu nước thể hiện trước hết ở lòng tự hào dân tộc. Chúng ta đã từng thấy dõng dạc vang lên trong bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt là tiếng nói đầu tiên như âm vang từ khí thiêng sông núi dội về: đất nước Việt Nam do vua Nam làm chủ. Nước là của vua, vua là tượng trưng cho chủ quyền của nước:                             
                                      “Sông núi nước Nam vua Nam
                                        Rành rành định phận ở sách trời          
                                        Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?           
                                        Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”  
    Đến vơí Nam quốc sơn hà, người đọc không khỏi ngỡ ngàng như đứng trước một công trình nhỏ bé, bền chắc mà tài hoa. Bài thơ hoàn toàn không có vũ khí binh đao mà kì lạ thay ta vẫn nhận ra tiếng quân reo, ngựa hí…Sự liên tưởng nhiều tầng ấy phải chăng được gợi lên từ tiếng nói tự hào dân tộc của một con người giàu lòng yêu nước và tinh thần tự chủ. Ở đây, ý thức tinh thần độc lập,  tự chủ khá rõ nét. Bài thơ xứng đáng là một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Nếu không có lòng tự hào dân tộc thì khó có thể viết ra được những câu thơ đầy xúc cảm như thế. 
Yêu nước thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược.
 Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này qua thơ các thi sĩ thời Trần, thơ Nguyễn Trãi…Một trong những thành tựu quan trọng của thơ thời Trần là đã thể hiện được chủ nghĩa yêu nước, ý chí quật cường chống quân xâm lược của dân tộc ta. Chính cảm hứng này đã tạo ra Hào khí Đông A trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc. Hào khí ấy vang lên hùng tráng mà tha thiết qua khúc ca khải hoàn“Tụng giá hoàng kinh sư” của Trần Quang Khải:   
                                              “Chương Dương cướp giáo gặc,
                                                Hàm Tử bắt quân thù.
                                                Thái bình nên gắng sức,
                                                 Non nước ấy ngàn thu.”
   Bài thơ làm sống dậy một không gian trận mạc chiến trường, đao kiếm với ngựa thét quân reo ngất trời tráng khí. Một trong hai trận ấy do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy. Chương Dương, Hàm Tử nằm trong hệ thống chiến thắng mở màn có ý nghĩa chiến lược cho cuộc phản công thắng lợi, mạnh và nhanh, cường độ lớn và tốc độ phi thường đã tạo cho lời thơ khí thế hùng tráng, thiêng liêng.
- Yêu nước là tự hào về truyền thống lịch sử.
   Trong thơ Trung đại Việt Nam dường như vẫn còn văng vẳng tiếng mài giáo dưới ánh trăng của Đặng Dung.
- Yêu nước là ca ngợi những người hi sinh vì đất nước
  Không thể cầm gươm tham gia nghĩa quân như các sĩ phu yêu nước khác, Nguyễn Đình Chiểu đã đánh giặc bằng ngòi bút:
                                “…Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
                                    Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà…”      
 Nỗi lo lắng và niềm đau xót cho ách nước, nạn dân ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Mỗi bữa thấy, mỗi ngày trông kẻ thù trước mắt lấn thêm một bước, Đồ Chiểu đau đớn như bị cắt đi một phần máu thịt. Cảm hứng bao trùm bài Chạy Tây là sự xửng sốt, nỗi bàng hoàng, lo lắng cho vận nước nạn dân:
                                  Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây 
                                    Một bàn cờ thế phút sa tay….”     
- Yêu nước là thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước .
  Trong thơ, thiên nhiên đất nứớc Việt Nam hiện lên thật đẹp đẽ, tráng lệ giàu đường nét, màu sắc.Với thơ thời Trần, qua cảnh trí thiên nhiên các thi sĩ đã gửi vào đó tình yêu quê hương đất nước của mình. Nguyễn Trung Ngạn khi đi sứ cũng đã viết nên những vần thơ xúc động về tình yêu quê hương đất nước với những phong vị riêng của một vùng đồng bằng Bắc Bộ:           
                                  Dâu già lá rụng tằm vừa chín         
                                  Lúa sớm bông thơm cua béo ghê    
                                  Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt         
                                  Dẫu vui đất khách chẳng bằng về           ”
                                                      (Quy Hứng)        
   Còn Nguyễn Trãi, cảnh đẹp thiên nhiên, khí trời lúc sang xuân thật huyền hồ đầy âm thanh, màu sắc. Xuân về mang theo sự tươi tốt với những làn mưa. Cỏ ở bến xanh như màu khói bao la bát ngát:
                                   “...Cỏ xanh như khói bến xuân tươi          
                                     Lại có mưa xuân nước vỗ trời…”
                                                                      (Bến đò xuân đầu trại)           
    Như vậy cảm hứng yêu nước trong thơ trung đại Việt Nam đã thể hiện ở nhiều khía cạnh phong phúvà sâu sắc. Đất nước, dân tộc là nỗi niềm khắc khoải  không nguôi trong tâm hồn con người Việt Nam nói chung và các thi sĩ nói riêng. Vậy nên, ở mỗi nhà thơ có cách khai thác, cảm nhận khác nhau song lại là vẫn sự thống nhất và làm nên một cảm hứng yêu nước lớn. Chính cảm hứng ấy đã làm nên cái độc đáo riêng và giá trị của thơ Việt Nam thời Trung đại.
2. Giáo dục lòng yêu nước qua môn Ngữ văn .
   Hiện nay trong nhà trường luôn coi trọng và quán triệt sâu sắc, toàn diện việc giáo dục tố chất, lấy giáo dục con người làm gốc, giáo dục đạo đức là ưu tiên, coi sự nghiệp trồng người là nhiệm vụ cơ bản của giáo dục. Chúng ta phải nỗ lực bồi dưỡng con người phát triển toàn diện đức – trí – thể – mỹ với phương châm dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người.
       Nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: Giáo dục thế hệ trẻ yêu quê hương, Tổ quốc XHCN và tinh thần quốc tế vô sản, ý thức làm chủ tập thể, tinh thần đoàn kết, thân ái, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, có ý thức kỷ luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đức tính thật thà, khiêm tốn, dũng cảm…
    Trong giáo dục đạo đức cho học sinh, việc giáo dục đạo đức truyền thống của dân tộc là rất quan trọng. Những giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam đã được lưu giữ, truyền lại cho các thế hệ và không ngừng được phát huy qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước rất hào hùng, oanh liệt. Giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc ta tựu trung lại có những nội dung cơ bản:
- Sống hoà thuận, đoàn kết, thương yêu đồng bào, đồng loại “thương người như thể thương thân”, nhất là với những người gặp hoạn nạn, khốn khổ. Tình cảm mặn nồng đó thể hiện ở vô vàn hành vi ứng xử trong quan hệ cộng đồng của người Việt Nam.
- Căm thù giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
- Sống thuỷ chung, biết ơn, tôn kính, noi gương những anh hùng, nghĩa sĩ có công đức với dân, với nước. Người Việt Nam luôn hướng về tương lai nhưng không bao giờ lãng quên quá khứ, quên tổ tông, vong ơn, bội nghĩa. Từ ngàn đời nay nhân dân ta luôn ghi nhớ những câu răn dạy như: “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”.
Trong chương trình giáo dục, đã có rất nhiều hình thức, môn học nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh như môn giáo dục công dân, văn học, lịch sử,… tất cả các môn học này ngoài việc cung cấp kiến thức cho học sinh thì thông qua đó phải coi trọng và đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh . Không thể giao phó nhiệm vụ ấy cho riêng một môn học nào mà cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, biện chứng với nhau hướng tới một mục đích chung cuối cùng là giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi chỉ đề cập đến vấn đề giáo dục tình cảm yêu nước cho học sinh qua THPT thông qua hoạt động dạy và học môn văn học trong nhà trường.
     Môn Văn học có giá trị giáo dục rất to lớn như  M.goorki đã nói “Văn học là nhân học” học văn chính là học cách làm người đồng thời môn văn học làm cho con người phát triển toàn diện. Giáo dục nói chung và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh nói riêng nhằm hình thành hành vi ứng xử văn hoá cho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết hiện nay. Đó chính là sự định hướng vào những bản chất tốt đẹp của con người Việt Nam mới, vừa giữ được thuần phong mỹ tục của dân tộc, vừa thể hiện sự thông minh sáng tạo của các thế hệ học sinh Việt Nam. Đây là việc làm vừa mang tính cấp bách, vừa có tính giáo dục lâu dài và cũng không hề đơn giản trước những làn sóng nhiễu của thời kỳ hội nhập và kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nếu xác định đúng các bước đi và biết sử dụng những biện pháp phù hợp cùng với sự chung tay của cả cộng đồng vì thế hệ trẻ thì nhất định chúng ta sẽ đào tạo được một lớp người mới vừa hồng vừa chuyên.Và đây đã được xác định là cả một sự nghiệp lớn của Đảng ta, cần có sự tham gia, chung sức, chung lòng của toàn hệ thống chính trị - xã hội, mà nòng cốt là từng gia đình (tế bào của xã hội) nhà trường, thầy cô giáo hết lòng chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, hết lòng vì học sinh thân yêu, bản thân từng học sinh phải tự xác định trách nhiệm của mình đối với gia đình, xã hội, thì chắc chắn sự nghiệp giáo dục trong tương lai sẽ gặt hái những thành tích xứng đáng với lòng tin của Đảng, Nhà nước và toàn dân.
3.  Biểu hiện của nội dung yêu nước qua bài thơ “Tỏ lòng
         - Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão.
         - Bài thơ Tỏ lòng thể hiện nỗi lòng của tác giả khi chưa trả xong chí làm trai.
4. Cách giáo dục nội dung yêu nước qua bài “T lòng
4.1. Lồng ghép trong nội dung bài học
         a. Phần tiểu dẫn:
Khi giảng dạy phần tiểu dẫn giáo viên tích hợp giáo dục lòng yêu nước và tự hào về tác giả Phạm Ngũ Lão là người văn võ song toàn, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. 
         b. Phần nội dung: Phần nội dung của bài có 2 phần:
Phần 1. Hai câu đầu:
    - Khi giảng dạy phần hình ảnh tráng sĩ giáo viên có thể giáo dục học sinh lòng tự hào về hình ảnh tráng sĩ hiện lên qua tư thế “cầm ngang ngọn giáo” giữ non sông. Đó là tư thế hiên ngang với vẻ đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ.
    - Hình ảnh ba quân hiện lên với sức mạnh của quân đội đang sôi sục khí thế quyết chiến thắng.
  (Hình ảnh tráng sĩ lồng trong hình ảnh ba quân tạo ra hào khí dân tộc thời Trần “hào khí Đông A” giáo dục cho học sinh về lòng tự hào về thời kì hào hùng của đất nước).
Phần 2. Hai câu sau: 
     - Khát vọng hào hùng đó là khát vọng lập công danh để thoả “chí nam nhi” cũng là khát vọng được đem tài trí “tận trung báo quốc” - thể hiện lẽ sống lớn của con người thời đại Đông A. Trong phần này giáo viên sau khi giảng dạy xong có thể liên hệ với những phẩm chất cần có trong thế hệ thanh niên ngày nay.
4. 2  Lồng ghép vào phần ứng dụng
   Khi giảng xong bài giảng giáo viên có thể đặt ra câu hỏi củng cố kiến thức, và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh: Qua bài thơ giúp em cảm nhận như thế nào về Hào khí Đông A được thể hiện qua vẻ đẹp của con người và thời đại.
Gợi ý: - Hào khí Đông A là hào khí quyết chiến quyết thắng của con người và thời đại nhà Trần: Điều đó được thể hiện qua:
            + Hình ảnh tráng sĩ: hiện lên qua tư thế “Cầm ngang ngọn giáo” giữ non sông
            + Hình ảnh “ba quân”: hiện lên với sức mạnh của đội quân đang sôi sục khí thế quyết chiến quyết thắng.
Hình ảnh tráng sĩ lồng vào hình ảnh ba quân mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân tộc thời Trần -“hào khí Đông A”
5.  Giáo án thể nghiệm
     Tiết 34.        Đọc văn:                     TỎ LÒNG                                  
                                                             ( Phạm Ngũ Lão)
A. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức :
- Cảm nhận được vẻ đẹp của con người thời Trần với tầm vóc, tư thế, lí tưởng cao cả; vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng, tinh thần quyết chiến thắng.
- Thấy được nghệ thuật bài thơ: cô đọng, ngắn gọn h ình ảnh kì vĩ; ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm.
2. Kỹ năng:
 - Kỹ năng đọc hiểu thơ Đường luật.
3. Thái độ:
- Bồi dưỡng nhân cách sống có lí tưởng, có ý chí quyết tâm thực hiện lí tưởng.
4. Năng lực :
- Năng lực giao tiếp: nghe, nói , đọc , viết.
- Năng lực đọc – hiểu nội dung cơ bản và đọc – hiểu cảm thụ văn học.
- Năng lực thẩm mĩ
- Năng lực hợp tác                      
- Năng lực tự học….
B. Chuẩn bị của Gv và HS
 Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án, thiết kế bài học
- Thiết bị dạy học: Máy chiếu, bảng, phấn
- Học liệu: Bài tập tình huống.
 Chuẩn bị của học sinh
-Đọc trước văn bản và trả lời câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài.
- Tìm hiểu thông tin về tác giả Phạm Ngũ Lão
- Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu,…
C. Thiết kế bài học
  * Ôn định tổ chức
HĐ1. Khởi động
GV cho học sinh xem bức tranh về người đan sọt làng Phù Ủng .
- Lời ghi chú dưới bức tranh gợi cho Anh (Chị) nhớ tới nhân vật nào trong lịch sử ?
- Ngoài ra Anh (Chị) biết thêm điều gì về con người này ?
+ Cách thực hiện: HS làm việc cá nhân, trả lời câu hỏi trong khoảng 5 phút.
HĐ2. Hình thành kiến thức
         Âm vang của thời đại Đông A với những chiến công lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm, ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông đã in dấu trên nhiều trang viết của các nhà thơ đương thời. Phạm Ngũ Lão – danh tướng nhà Trần đánh đâu thắng đó cũng ghi lại những xúc cảm của mình qua “Thuật hoài. Bài thơ thể hiện hình ảnh và khí thế con người thời Trần cũng như nhân cách cao đẹp của tác giả như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV-HS YÊU CẦU CẦN ĐẠT
Hoạt động 1
Yêu cầu học sinh đọc Tiểu dẫn SGK
GV? Nêu những hiểu biết của em về Phạm Ngũ Lão?
- HS đọc và trả lời câu hỏi.
- GV nhận xét và chốt kiến thức.
GV mở rộng thêm kiến thức cho học sinh bằng việc kể 1 câu chuyên hay giai thoại về Phạm Ngũ Lão.
 
 
 
 
 
 
GV hướng dẫn đọc .
Bài thơ đọc giọng trầm hùng, chắc nịch thể hiện tầm vóc tráng sĩ đời Trần và hào khí Đông A.
- Yêu cầu 2 HS đọc bài thơ
- GV nhận xét giọng đọc và đọc mẫu.
-GV? Em hiểu gì về  nhan đề của bài thơ
- GV? Định hướng của em trong việc cảm nhận bài thơ như thế nào ?
Bài thơ được chia làm mấy phần? Nêu nội dung từng phần?
- HS chia bố cục
- GV chốt kiến thức.
Hoạt động 2
GV hướng dẫn HS đọc- hiểu văn bản
GV? So sánh và chỉ ra điểm khác nhau giữa bản nguyên tác và dịch thơ?
- HS so sánh và chỉ ra điểm khác nhau.
- GV chốt ý
Cảm hứng yêu nước xuyên suốt trong VHTĐ. Riêng cảm hứng yêu nước trong bài thơ này được thể hiện rất rõ trong nội dung của hai câu thơ đầu. Phạm Ngũ Lão muốn bày tỏ niềm tự hào về tư thế của người tráng sĩ, về khí thế của ba quân trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Ở đó nổi bật lên hình ảnh người tráng sĩ.
GV? Em tưởng tượng như thế nào về bức chân dung này
GV? Những yếu tố nào trong và ngoài văn bản giúp em hình dung như vậy về hình tượng ?
- HS suy nghĩ trả lời
- GV nhấn mạnh
GV? Em có nhận xét gì về thời gian và không gian trong câu thơ đầu?
- HS trả lời
- GV nhận xét
Hình ảnh tráng sĩ càng trở nên lớn lao hơn, mạnh mẽ,vững chãi hơn khi phía sau người tráng sĩ có sự hậu thuẫn của ba quân.
GV? Hình ảnh “ba quân” có ý nghĩa gì?
- HS trả lời
- GV chốt ý nghĩa hình ảnh “ba quân”.
GV? Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để diễn tả sức mạnh của quân độ nhà Trần ? Tác dụng của nó ?
- HS trả lời
- GV chốt kiến thức
-GV? Hình tượng thơ làm ta nhớ tới các câu thơ nào trong VHTĐ ?
Thuyền bè muôn đội
Tinh kì phấp phới
Tì hổ ba quân
Giáo gươm sáng chói.
                       (Bạch Đằng giang phú)
Hay
Đánh một trận sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
                         (Bình Ngô đại cáo)
GV ? Qua việc phân tích, hãy cho biết hai câu thơ đầu đã khắc họa vẻ đẹp con người thời Trần như thế nào?
- HS suy nghĩ trả lời
- GV nhận xét, chốt ý.
Liên hệ. Từ đó giáo dục lòng yêu nước cho HS về truyền thống yêu nước của dân tộc ta xưa đến nay .
GV? Vậy theo em yêu nước hiện nay em phải làm những gì .
Yêu nước, yêu truyền thống  quý báu của dân tộc.
Yêu nước phải biết tỏ tấm lòng biết ơn với sự hi sinh của những người anh hùng
Yêu nước phải ra sức phấn đấu học tập tốt để góp sức mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tiếp nối mạch cảm xúc của 2 câu đầu, 2 câu sau thể hiện khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước, vì dân tộc.
GV? Giọng điệu ở 2 câu thơ sau có gì khác so với hai câu trước .
Anh chị hiểu  thế nào về câu thơ “công danh nam tử còn vương nợ ” ? Có phải chỉ Phạm Ngũ Lão mới quan tâm về “nợ công danh”  không ?
- HS suy nghĩ, trả lời
- GV giảng giải, mở rộng.
Theo quan niệm phong kiến, là trai phải lập được công danh, phải “Lên Đông Đông tĩnh, sang Đoài Đoài yên” tức là phải lập công để lại sự nghiệp trên bia đá, bảng vàng. Có nhiều nhà thơ đã từng nhắc đến trí làm trai: Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu. Chính vì vậy, mỗi thời đại lại có những bậc anh hùng với các câu nói nổi tiếng (Trần Quốc Toản, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn).
GV? Ý nghĩa tích cực của quan niệm về chí làm trai là gì ?
Ở thời loạn “nợ công danh” là phải ra trận, lập công “Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”
Hay:                                                     
“Đã mang tiếng ở trong trới đất
Phải có danh gì với núi sông” .
              Nguyễn Công Trứ
GV? Liên hệ với thời bình “nợ công danh” là gì ?
 
GV? Vậy chữ “công danh” mà tác giả nói đến trong bài thơ có ý nghĩa gì?
- HS suy nghĩ trả lời
- GV chốt ý
 
Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng cả xương máu, tính mạng. Và cũng chính vì món nợ đó mà trong lòng tác giả nảy sinh một nỗi thẹn.
Nhóm 1.
 GV? Em biết gì về người cảm thấy “thẹn”trong câu thơ này
- HS trả lời
- HS các nhóm khác nhận xét
- GV nhận xét, mở rộng
Nhóm 2.
GV? Từ (1), (2) và (3) hày bình giá về câu thơ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
- HS trả lời
- HS các nhóm khác nhận xét
- GV nhận xét, mở rộng
Nhóm 3                     
 GV? Người mà tác giả cảm thấy “thẹn” là ai.
- HS trả lời
- HS các nhóm khác nhận xét
- GV nhận xét, mở rộng
 
Nhóm 4
GV? Bạn hãy đọc những câu thơ viết về nồi then trong VHTĐ.
- HS trả lời
- HS các nhóm khác nhận xét
- GV nhận xét, mở rộng.
 
 
GV?: Có ý kiến cho rằng nỗi  thẹn của Pham Ngũ Lão là quá kiêu kì ? Ý kiến của em.
 
 
 
GV? Vậy đã có bao giờ em cảm thấy thẹn chưa.
 
 
 
 
GV? Nỗi thẹn ấy  chính là thể hiện  hào khí Đông A làm ta sống lai thời kì nào của dân tộc
GV?  Như vậy qua nỗi thẹn này, em hiểu gì về nhà thơ?
- HS trả lời
- GV chốt ý.
GV? Thẹn đó là biểu hiện của một hoài bão lớn lao? Em có cho rằng đó là khát vọng tự hoàn thiện bản thân không? Nó còn ý nghĩa với các em hôm nay không?
 
 
 
 
 Hoạt động 3
Thao tác 3
GV hướng dẫn HS tổng kết
GV? Nêu nhận xét khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Phạm Ngũ Lão (1255-1320)
- Quê: Làng Phù Ủng – Huyện Đường Hào – Tỉnh Hưng Yên.
- Là danh tướng đời Trần, xuất thân từ tầng lớp bình dân
- Là người có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông (lần 1 và lần 2), làm đến chức Điện súy và phong tước Quan nội hầu .
 => Con người văn võ toàn tài .
2. Tác phẩm:
- Sự nghiệp:  Thuật hoài
                    Viếng Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại Vương.
3. Văn bản
 a. Nhan đề:
- Thuật: Bày tỏ
- Hoài: Nỗi lòng
-> Thuật hoài là bày tỏ nỗi lòng.
b. Bố cục
- Bố cục: 2 phần.
+ Hai câu đầu: Hình tượng con người và quân đội thời Trần.
+ Hai câu sau: Chí làm trai- tâm tình của tác giả.
 
 
II. Đọc – hiểu văn bản:
1. Vẻ đẹp con người thời Trần
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)
 
- Đối sánh giữa nguyên tác và dịch thơ
+ Bản dịch không sát với nguyên tác: dịch “hoành sóc” → “múa giáo” làm mất đi tư thế mạnh mẽ, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc của người tráng sĩ thời Trần.
 
 
 
- Hình ảnh người tráng sĩ:
  + Hành động: hoành sóc (cắp ngang ngọn giáo) → Tư thế ung dung, đĩnh đạc, chủ động, hiên ngang, sẵn sáng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
 
 
+ Thời gian: mấy thu  thời gian dài, không gian rộng lớn
   Không gian: non sông         
▬► Độ dài dằng dặc của thời gian và độ rộng lớn của không gian làm nổi bật tầm vóc lớn lao, sánh ngang vũ trụ của người tráng sĩ.
- Hình ảnh ba quân:
     + Tam quân: Vừa là hình ảnh quân đội nhưng cũng là hình ảnh cả dân tộc có khí thế như hổ báo.
    + Câu thơ có thể hiểu theo 2 nghĩa:
● Ba quân sức mạnh như hổ báo có thể nuốt trôi trâu.
● Ba quân sức mạnh như hổ báo khí thế át cả sao Ngưu.
      → Làm nổi bật sức mạnh sánh ngang vũ trụ của cả dân tộc.
+ Nghệ thuật:  Phóng đại, so sánh.
  →  Tác dụng : Làm tăng hào khí của quân đội nhà Trần
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 =>Bằng hình ảnh thơ mang tính sử thi, giọng điệu hào hùng hai câu thơ đã khắc họa được vẻ đẹp  của con người thời Trần với ý chí và lòng yêu nước nồng nàn.
 
 
 
 
 
 
 
 
b. Nỗi lòng của tác giả:
          Nam nhi vị liễu công danh trái
         Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
          (Công danh nam tử còn vương nợ
           Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu)
Giọng điệu : Nếu giọng điệu hai câu thơ đầu khỏe khoắn,  hùng tráng thì giọng điệu hai câu thơ sau  trầm lắng, suy tư bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở
-“Nợ công danh” là chí làm trai theo tinh thần của Nho giáo :
+  lập công (để lại sự nghiệp )
 + lập danh (để lại tiếng thơm )
=>Đó là lí tưởng chung của bậc nam nhi trong thời phong kiến
 
 
 
 
 
 
-Ý nghĩa tích cực đó là : Công danh đối với kẻ là trai là phải thể hiện nghĩa vụ đối với cuộc đời, với dân với nước, không đơn thuần lấy công trạng để khẳng định bản thân .
 
 
 
 
-Thời bình “nợ công danh” là “nợ thi thư, học hành thi cử , đỗ đạt, để góp sức mình trong công cuộc xây dựng đất nước
- “Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến là nghĩa vụ đối với đất nước, là thứ công danh làm nên từ tài thao lược, không phải thứ công danh tầm thường  mang đậm màu sắc cá nhân.
 
 
 
- Người càm thấy thẹn trong bài thơ xuất phát từ một con người thường trực trách nhiệm đối với dân, với nước. Đó là chàng trai đan sọt ở làng Phù Ủng,đó là Phạm Ngũ Lão được Hưng Đạo được Hưng Đạo đưa về làm gia khách, rồi giữ đội quân hậu vệ, là một võ tướng tài ba của nhà Trần .
 
- Nỗi then xuất phát từ một người như thế hẳn không nhỏ bé, bình thường chút nào. Hơn thế nữa tác giả tự thấy mình không xứng tầm với Vũ Hầu Gia Cát Lượng
 
- Người anh hùng thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.   
    + Vũ hầu Khổng Minh Gia cát Lượng là bậc kì tài, quân sư nổi tiếng tài, đức giúp Lưu Bị lập nên sự nghiệp lớn, thống nhất nhà Hán.
   + Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa có tài mưu lược như Khổng Minh để khôi phục giang sơn, giải phóng đất nước.
- Ơn vua chưa chút báo đền /Cúi trông hổ đất ngẩng lên thẹn  trời .(Nguyễn Khuyến)
- Nhân hứng cũng vừa toan cất bút /Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.( Nguyễn Khuyến
- Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng /Thẹn cùng sông buồn cùng núi tủi cùng trăng .(Phan Bội Châu )
-Nỗi thẹn đó không quá kiêu kì. Đó là nỗi thẹn cao cả của một nhân cách lớn .Nỗi thẹn đó giúp con người không dừng lại, tự thỏa mạn tự đắc ý với bản thân mà luôn hướng về phía trước, quyết tâm thực hiện lí ưởng
- Có.Thẹn là trạng tái cảm xúc tự soi vào bản thân để nhận ra mình có điều gì đó không nên không phải, tự thấy xấu hổ.Ví dụ như học chưa giỏi, chưa làm thầy cô, cha mẹ vui lòng. Chưa có sự đóng góp của mình với lớp, tập thể …..
-Thời đại nhà Trần với ba lần đại thắng quân Nguyên - Mông
 
=> Sự khiêm tốn và nỗ lực không ngừng của nhà thơ và nhân cách cao đẹp của ông.
 
* Bài học đối với thế hệ thanh niên ngày nay
- Sống phải có hoài bão, ước mơ và biết mơ ước những điều lớn lao.
- Nỗ lực hết mình và không  ngừng để thực hiện hoài bão và hoàn thiện bản thân.
- Gắn khát vọng, lợi ích của bản thân với lợi ích của tổ quốc, nhân dân.
III. Tổng kết
1. Nội dung
  - Bài thơ là bức chân dung tinh thần của tác giả đồng thời cũng là vẻ đẹp của con người thời Trần- có sức mạnh, lí tưởng, nhân cách cao đẹp, mang hào khí Đông A.
2. Nghệ thuật
 - Thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng bao quát, hàm súc.
 - Bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ.
 
 
3. Hoạt động thực hành
   - Viết đoạn văn bản khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/chị về lí tưởng sống của các bậc nam tử thời phong kiến. Từ đó liên hệ với thế hệ trẻ hiện nay
    Sau khi HS trả lời, GV chốt lại những kiến thức cơ bản, nhận xét về năng lực tạo lập văn bản của HS…
4. Hoạt động ứng dụng, mở rộng:
 - Qua bài thơ giúp em cảm nhận như thế nào về Hào khí Đông A được thể hiện qua vẻ đẹp của con người và thời đại.
C. Dặn dò: Tiết sau chuẩn bị bài “Cảnh ngày hè
                                                    C. Kết luận:
     Như vậy, ngoài việc tiếp cận tác phẩm Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão để thấy được vẻ đẹp của người anh hùng vệ quốc quân hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách cao lớn Hào khí của thời đại Đông A. Chúng ta còn hướng dẫn cho học sinh qua tìm hiểu nội dung của tác phẩm để “Giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua baì thơ Tỏ lòng”    
   Với chuyên đề này đó chính là những kinh nghiệm thực tế của tôi trong quá trình giảng dạy mà  tôi muốn trao đổi với đồng nghiệp. Mong được đón nhận nhiều ý kiến của mọi người để chuyên đề được hoàn thiện hơn .Tôi xin chân thành cảm ơn .
  Tài liệu tham khảo
 1. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 10 tập 1
 2. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT  môn ngữ văn – quyển 1 và 2 – NXB Giáo dục.
 3. Phương pháp dạy học ngữ văn ở trường THPT theo hướng tích hợp và tích cực – Đoàn Thị Kim Nhung  - NXB Đại học quốc gia TPHCM.
 4. Những bài thơ hay giáo dục học sinh về lòng yêu nước tự hào dân tộc  trong chương trình ngữ văn trung học -Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn – NXB Giáo dục.
 5. Sách giáo khoa môn GDCD lớp 10. 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 139.50 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: Nguyễn Thị Hương Quế (huongquethptnghen@gmail.com)
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 26/01/2019 07:31
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    34
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

VĂN BẢN MỚI

Số: 3313/BGDĐT-GDĐH
Tên: (Điều chỉnh lịch triển khai công tác tuyển sinh)

Ngày BH: (28/08/2020)

Số: 61 /KH-THPTN
Tên: (Thực hiện công văn chỉ đạo Số: 611/SGDĐT-GDPT, ngày 16/4/2020 và các công văn hướng dẫn của Sở về việc dạy học qua Internet trong thời gian qua, Trường THPT nghèn xây dựng quy định về việc dạy học qua Internet trong thời gian tới như sau:)

Ngày BH: (18/04/2020)

Số: Số: 239-KH/TWĐTN-TNTH
Tên: (KẾ HOẠCH Tổ chức Cuộc thi tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc “Tự hào Việt Nam” lần thứ III, năm học 2019 - 2020)

Ngày BH: (18/10/2019)

Số: /KHNH20192020
Tên: (Kế hoạch năm học 2019 - 2020)

Ngày BH: (10/09/2019)

Số: K/HLS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (27/11/2018)

Số: KẾ HOACH NGOẠI KHÓA lLỊCH SỬ 2018/06/KH-LS
Tên: (GIÁO DỤC TRUYỀN THỒNG YÊU NƯỚC CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN QUA DI SẢN VÀ DANH NHÂN ĐỊA PHƯƠNG I. MỤC ĐÍCH II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH III. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG)

Ngày BH: (02/02/2018)

Số: Số: 28/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập BCĐ viết Kỷ yếu, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (20/05/2017)

Số: Số: 29/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng truyền thống, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (20/05/2017)

Số: QUY ĐỊNH Về đạo đức nhà giáo- Số: 16/2008/QĐ-BGDĐT
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo)

Ngày BH: (16/04/2008)

Số: /QĐ-THPTN
Tên: (Quy tắc ứng xử trường THPT Nghèn)

Ngày BH: (06/03/2017)

Danh mục

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 2103 view

  Giải trí

1 photos | 1948 view

  Kỷ yếu

0 photos | 755 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 3
  • Hôm nay: 127
  • Tháng hiện tại: 60796
  • Tổng lượt truy cập: 3268398

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606