Rss Feed Đăng nhập

Kiểu nhân vật tài hoa, nghệ sĩ của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” và tùy bút “Người lái đò sông Đà”

Gửi lên: 30/04/2019 23:46, Người gửi: trannga, Đã xem: 18

I. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
       Nguuyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ lớn. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, có hai tác phẩm của Nguyễn Tuân được đưa vào giảng dạy, đó là truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Ngữ văn lớp 11- tập một) và tùy bút “Người lái đò sông Đà” (Ngữ văn 12-tập một). Khi dạy học những tác phẩm này, người dạy cần giúp học sinh liên hệ, đối chiếu giữa các tác phẩm, có cái nhìn khái quát, toàn diện để thấy được phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân. Với phạm vi một báo cáo chuyên đề, tôi xin trình bày đề tài Tìm hiểu sự vận động có tính nhất quán và sáng tạo ở kiểu nhân vật tài hoa, nghệ sĩ của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” và tùy bút “Người lái đò sông Đà”.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1.Phương pháp phân tích- tổng hợp
       Phương pháp này cần thiết trong quá trình tìm hiểu các nhân vật cụ thể. Từ đó có những khái quát đối với từng nhân vật trong hệ thống các nhân vật của Nguyễn Tuân.
2,2.Phương pháp hệ thống
       Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất. Ở mỗi nhân vật cũng có sự thống nhất giữa đặc điểm tính cách của nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. Việc đặt nhân vật trong hệ thống các nhân vật cùng loại hình, trong mối quan hệ với các nhân vật khác sẽ giúp người nghiên cứu có đươc sự đánh giá chính xác về nhân vật, giá trị tư tưởng của tác phẩm và tài năng của nhà văn.
2.3.Phương pháp so sánh
      Dùng phương pháp so sánh để đối chiếu nhân vật của Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Chữ người tử tù” với nhân vật trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” để từ đó thấy được sự vận động có tính kế thừa, ổn định trong phong cách nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nhà văn.
 
II. Phần nội dung
1. Cơ sở của đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
       Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
        Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), năng lực đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa. Trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Trong các giờ học ngữ văn, nhất là những giờ đọc văn, giáo viên cần tổ chức cho học sinh chú ý tìm hiểu nghệ thuật thể hiện để khám phá giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, từ đó thấy được tài năng, sự đóng góp của nhà văn đối với nền văn học dân tộc.
1.2. Cơ sở thực tiễn
       Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa" (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một "huyền sử" - huyền sử của một người ưa lối chơi "độc tấu". Cung đàn văn chương Nguyễn Tuân được viết trên cùng một khuông nhạc nhưng với thanh âm trầm bổng khác nhau của các nốt nhạc. Phong cách Nguyễn Tuân vì vậy mà có sức hấp dẫn người đọc. Những nét thống nhất và khác biệt ấy thể hiện rõ qua hai tác phẩm "Chữ người tử tù" (1939) và "Người lái đò sông Đà" (1960) được đưa vào dạy học trong chương trình Ngữ văn lớp 11 và ngữ văn 12.
      Trong quá trình đọc- hiểu  các tác phẩm của Nguyễn Tuân học sinh chủ yếu diễn nôm cốt truyện, không chú ý phân tích nghệ thuật thể hiện của tác giả trong tác phẩm. Do đó chưa thấy được nét đặc sắc, độc đáo của tác phẩm cũng như sự sáng tạo của tác giả trong tác phẩm. Mặt khác trong quá trình tiếp cận tác phẩm, học sinh chủ yếu tìm hiểu các tác phẩm riêng lẻ, ít có cái nhìn xâu chuỗi, hệ thống hóa các tác phẩm của Nguyễn Tuân được sáng tác ở các thể loại, các giai đoạn khác nhau, nên chưa thấy được sự vận động vừa ổn định, vừa linh hoạt sáng tạo của các nhà văn.
      Từ các cơ sở trên tôi đề xuất một hướng tiếp cận tìm hiểu nghệ thật xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân.
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật kiểu tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân của Nguyễn Tuân: Các nhân vật của Nguyễn Tuân dù ở cương vị nào cũng đều là những người tài hoa, nghệ sĩ.
2.1. Kiểu nhân vật tài hoa nghệ sĩ trong truyện ngắn Chữ người tử tù
- Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của nhân vật Huấn Cao
     Nguyễn Tuân- một nhà văn nổi tiếng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông  có những sáng tác xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như “Chiếc ấm đất”, “Chén trà sương”… Và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung tài hoa trong thiên hạ, đó là Huấn Cao- nhân vật chính trong tác phẩm “Chữ người tử tù”.
      Huấn Cao là con người có tài năng khác thường. Nét tài hoa này trước hết là tài viết chữ đẹp. Đó là tài viết chữ Hán- thứ chữ tượng hình- đã được người xưa nâng lên tầm nghệ thuật thư pháp.Tài viết chữ đẹp của Huấn Cao không được thể hiện qua việc miêu tả trực tiếp của tác giả mà thông qua sự nhận xét, đánh giá và thái độ của một nhân vật khác trong truyện là viên quản ngục: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm…Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đờì”. Viên quản ngục sẵn sàng chịu nhục, bất chấp nguy hiểm để đạt được mong ước bấy lâu là “có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do chính tay ông Huấn cao viết”. Điều đó có nghĩa là nhân vật này đã đặt chữ ông Huấn cao hơn cả danh dự và tính mạng của mình. Đây là sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân. Một mặt nó làm cho nhân vật hiện lên khách quan, tránh được mọi sự gò ép, áp đặt. Mặt khác nó cũng có tác dụng như một chiếc đòn bẩy, tôn cái tài, cái đẹp, cùng những phẩm chất đáng quí của Huấn Cao lên nhiều lần. Và như vậy người đọc có cảm giác tại năng của nhân vật Huấn Cao đã đạt đến độ siêu phàm, hiếm có, sống mãi trong sự tôn thờ, ngưỡng mộ của người đời. Điều này cũng phù hợp với quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân.
      Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng thật đáng ca ngợi. Ông là con người tài, tâm vẹn toàn. Huấn Cao có cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông đã dám chống lại triều đình mà ông căm ghét để giờ đây khép vào tội “đại nghịch”, chịu án tử hình. Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la. Ông Huấn thương cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát. Ông Huấn rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé họng”. Nếu như Huấn Cao phục tùng bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh chống lại triều đình mục nát, giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công, ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khóa, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có.
       Trong những ngày chờ thi hành án, mặc dù “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang, kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái” và lãnh đạm, không thèm chấp sự đe dọa của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu gông, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dù cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục. Mặc dù ở trong tù, ông vẫn “thản nhiên nhận rượu, thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời:
 “Ngươi hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là nhà ngươi đừng bước chân vào đây”.
Cách trả lời ngang tàng, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ …”. Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội. Ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội. “Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.
    Thiên lương của Huấn Cao cũng thật trong sáng, cao đẹp. “Tính ông vốn khoảnh, không vì vàng ngọc hay  quyền thế mà ép mình cho chữ bao giờ”, vì ông không sợ quyền uy, không ham vàng ngọc. Theo ông, chỉ có “thiên lương”, bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý. Do vậy khi biết được nỗi lòng của viên quản ngục, Huấn Cao không những vui vẻ nhận lời cho chữ mà còn thốt rằng: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Hành động cho chữ viên quản ngục chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng những kẻ tầm thường lên ngang hàng với mình.
    Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của nhân vật Huấn cao được thể hiện rõ nét trong cảnh Huấn Cao cho chữ . Đó quả là  một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Người cho chữ là  tử tù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại. Huấn Cao đang dồn hết tài năng, tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Viết chữ rất đẹp nhưng cả đời Huấn Cao mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân rồi phải vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa con người. Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người cha khuyên bảo con: “Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành vững rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Vì theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức được cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi. Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi. Huấn Cao, người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải, đã xóa tan bóng tối hắc ám của cái ác, cái xấu . Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để mang ánh sáng của cái đẹp xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.
       Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm”. Và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng, sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng về thẩm mĩ trong văn học. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
-Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của nhân vật viên quản ngục.
      Quản ngục là một nhân vật phụ trong tác phẩm Chữ người tử tù. Nhưng nhân vật này cũng  góp phần không nhỏ làm nên giá trị độc đáo của thiên truyện.  Viên quản ngục không có cái tài hoa của một nghệ sĩ nhưng lại có tâm hồn  nghệ sĩ đó là yêu cái đẹp và trân trọng người tài.
     Hai chữ quản ngục đã phần nào gợi lên đầy đủ nghề nghiệp về nhân vật đó là   cai tù, nghề đại diện cho quyền lực phong kiến, đối lập với những con người tài hoa, khí phách như Huấn Cao, đối lập với cái đẹp. Nghề nghiệp ấy cũng gợi lên một môi trường của gông cùm, xiềng xích, tội ác. Nhân vật ấy hằng ngày phải chứng kiến bao điều tàn nhẫn, lọc lừa, ăn đời ở kiếp với bọn tiểu nhân… Cảnh sống ấy dễ làm cho con người bị chai sạn, dễ bị đẩy vào bùn nhơ của tội lỗi. Nhưng quản ngục vẫn giữ được vẻ đẹp nhân cách đáng quí. Cách ví von của Nguyễn Tuân “Đó là một thanh âm trong trẻo chen giữa vào bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”, là “cái cao khiết giữa một đống cặn bã…” thể hiện sự nhìn nhận, khám phá, đề cao con người mang vẻ đẹp thiên lương nghệ sĩ.  Để làm nổi bật thanh âm trong trẻo, cái cao khiết của viên quản ngục, nhà văn Nguyễn Tuân đã đi vào thể hiện nhân vật quan ngục là con người bị ném vào môi trường cặn bã nhưng vẫn giữ được thiên lương. Điều đó bộc lộ qua thái độ và cách ứng xử của viên quản ngục đối với sáu người tử tù đặc biệt là đối với Huấn Cao. Khi nhận được phiến trát, quản ngục hỏi thầy thơ lại: “Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng  tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh rất đẹp đó không?” Câu hỏi là sự thăm dò kín đáo, thận trọng nhưng cũng chính là bộc lộ sự ngưỡng mộ, khâm phục, kính nể của quản ngục đối với tài hoa, danh tiếng và khí phách của Huấn Cao. Khi biết mình nắm trong tay sinh mệnh của Huấn Cao, quản ngục đã phải trải qua một cuộc đấu tranh tư tưởng. Ông ngồi đó với khuôn mặt tư lự và suy nghĩ. Quản ngục hiểu rằng, ông là người hành pháp phải làm việc theo bổn phận và chức trách mà chính quyền giao cho. Ông băn khoăn, trăn trở không biết phải đối xử với Huấn Cao như thế nào. Bởi đó là một con người mà từ lâu quản ngục đã mến mộ. Nguyễn Tuân đã dành những trang văn trang trọng, nên thơ miêu tả khung cảnh đêm tối khi quản ngục suy ngẫm: “Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu  thu không…nâng đỡ lấy một  ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”.
       Vẻ đẹp nhân cách viên quản ngục được Nguyễn Tuân tô đậm khi nhà văn  miêu tả thái độ khác thường của quản ngục lúc tiếp đón sáu người tử tù. Quản ngục đã nhìn Huấn Cao và các bạn tù của ông bằng cặp mắt hiền lành và lòng kiêng nể. Cái nhìn ấy, tấm lòng ấy đã ẩn chứa một thái “độ biệt nhỡn liên tài”. Chính thái độ kiêng nể của quản ngục  đã làm cho bọn lính lấy làm lạ, nhắc quản ngục: “Xin thầy để tâm cho…”. Quản ngục đã trả lời với bọn lính: “ Ta biết rồi, việc quan ta đã có phép nước. Các chú chớ nhiều lời”. Như vậy, Nguyễn Tuân đã khai thác yếu tố tương phản, đối lập giữa một bên là bọn lính áp giải hung hăng, với một bên là ánh mắt hiền lành của viên quản ngục để làm nổi bật về viên quản ngục: quản ngục tuy là đai diện cho quyền lực phong kiến nhưng ông không phải là hung đồ với bàn tay vấy máu. Ngược lại sống giữa bùn nhơ nhưng ông không bị hoen ố, không bị vấy bẩn mà thực sự là cái cao khiết giữa một đống cặn bã.
      Xây dựng nhân vật viên quản ngục, nhà văn không chỉ thể hiện vẻ đẹp nhân cách mà còn khám phá và thể hiện vẻ đẹp của một con người có tâm hồn của một người nghệ sĩ. Theo cách giới thiệu của nhà văn, viên quản ngục là một nhà nho, biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền và có một khát vọng cháy lòng là xin được con chữ Huấn Cao, coi đó là vật báu. Nghĩa là đằng sau cái con người công cụ của bộ máy trấn áp quyền lực phong kiến, nhân vật viên quản ngục còn là một con người có tâm hồn nghệ sĩ, trân trọng cái đẹp, khao khát thưởng thức cái đẹp.
     Từ  khi Huấn Cao trở thành người tù nơi trại giam của mình, viên quản ngục khổ tâm nhất đó là có được Huấn Cao ở trong tay mà không biết làm thế nào để tiếp cận được Huấn Cao.Quản ngục luôn tư lự, đăm chiêu, nghĩ ngợi tìm cách xin chữ Huấn Cao cho bằng được. Vì chữ Huấn Cao là báu vật trên đời, nếu không xin được thì quản ngục sẽ ân hận suốt đời. Miêu tả chân dung quản ngục lúc này giọng văn Nguyễn Tuân trở nên chậm rãi, trang trọng: Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ.” Một hôm quản ngục mở khóa cửa buồng kín, tỏ ý biệt đãi Huấn Cao và bị Huấn Cao thể hiện thái độ khinh bạc nhưng quản ngục không hề trả thù. Ngược lại ông còn “Xin lĩnh ý” rất từ tốn và khiêm nhường. Có lẽ, ông đã tự ý thức được khoảng cách xa vời giữa người tử tù Huấn Cao với mình và ông hiểu được để có cái đẹp phải tự nguyện chứ không phải là cưỡng bức bằng những mánh khoé tầm thường.
     Cảnh cho chữ là nơi kết đọng vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ của quản ngục. Khi Huấn Cao viết xong một chữ “viên quản ngục lại vội khúm núm”. Sự khúm núm ấy không phải là nỗi sợ sệt tầm thường mà là cảm kích tột cùng trước một nhân cách lớn, tài năng lớn. Khi nghe những lời khuyên chân thành của Huấn Cao, quản ngục đã cảm động “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Đây không phải là cái cúi đầu đớn hèn, nhục nhã mà cái cúi đầu này khiến quản ngục trở nên lớn lao, cao cả. Bởi cúi đầu trước cái đẹp thì đó cũng là hành động đẹp của một con người có nhân cách cao đẹp. Phải chăng cái cúi đầu ấy như cái cúi đầu của Cao Bá Quát  thuở nào: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Bên cạnh cái cúi lạy cao cả đó là giọt nước mắt của tâm hồn nghệ sĩ biết yêu, biết trân trọng đến xót xa ngậm ngùi, nuối tiếc cho cái đẹp. Thái độ nhã nhặn và tinh thần phục dịch tận tụy Huấn Cao của viên quản ngục là biểu hiện một thái độ tôn trọng, thành kính trước một nhân cách đẹp. Luôn hướng về cái đẹp, chăm sóc cái đẹp cũng là hành vi trọng nghĩa, một phẩm chất trong sáng cao quý hiếm có của nhân vật này. Yêu cái đẹp đến mức dám phạm đến phép nước, dám bất chấp nguy hiểm  là một tâm hồn đẹp đẽ hiếm thấy. Nhân vật viên quản ngục xứng đáng được nêu gương ,ca ngợi.
        Làm nghề quản ngục, môi trường làm việc là nhà tù, đối tượng tiếp xúc hằng ngày là tù nhân, tội phạm, nhưng  với sự hoà quyện giữa nhân cách cao đẹp và tâm hồn người nghệ sĩ, nhân vật viên quản ngục có thể được ví  như một bông sen vươn dậy từ bùn lầy “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Trong một đời cầm bút đi tìm cái đẹp, Nguyễn Tuân luôn cảm kích, ngợi ca những con người tài hoa nghệ sĩ trong bất cứ nghề gì và hình tượng viên quản ngục là một nhân vật như thế.
2.2. Kiểu nhân vật  tài hoa, nghệ sĩ trong tùy bút Người lái đò sông Đà
        Nếu như trước Cách mạng tháng Tám Nguyễn Tuân thường tìm cái đẹp trong quá khứ thì sau Cách mạng tháng Tám ông say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống chiến đấu, lao động của nhân dân. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông thời kì này là tuỳ bút "Người lái đò sông Đà".
    "Người lái đò sông Đà" dược in trong tập tuỳ bút "Sông Đà" (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo phong phú. Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là "thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc" qua hình ảnh người lái đò sông Đà.
     Người lái đò sông Đà hiện lên trước hết là một người lao động từng trải, có nhiều kinh nghiệm đò giang, có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một:
   "Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc thuyền nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm, méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này…… Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn..."
     Trong cuộc chiến đấu với thác dữ, người lái đò  thực sự là người nghệ sĩ tài hoa trong nghề chèo đò: hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, mà bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. "Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất", người lái đò "phá luôn vòng vây thứ hai". Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá. Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động "tấn công": Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, người lái đò chỉ có một cán chèo, một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng, người lái đò vẫn chiến thắng, khiến cho bọn đá tướng “tiu nghỉu bộ mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé.”
      Nhân vật người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh, làm lụng âm thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên lớn lao, kì vĩ, trở thành đại diện của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Người lao động nhờ ý chí kiên cường, bền bỉ, quyết tâm mà chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc.
     Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở  nhân vật người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong tác phẩm Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.

    Quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác lại dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ. Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo.” Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dễ thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có trong trang văn của Nguyễn Tuân.

   "Người lái đò sông Đà" là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng tám. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây. Qua nhân vật người lái đò, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước, niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với nhân dân, đất nước .
 
3. Sự vận động sáng tạo trong cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân
     Nhân vật Huấn Cao, viên quản ngục trong tác phẩm Chữ người tử tù là những nhân vật lãng mạn. Với những nhân vật này, tác giả đưa người đọc trở về với một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng. Để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục, Nguyễn Tuân đã đặt các nhân vật vào một tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quản ngục và thơ lại. Đó là cuộc gặp gỡ của tử tù với quan coi ngục, nhưng cũng là cuộc hội ngộ của những kẻ “liên tài tri kỉ”.
     Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của nhân vật Huấn Cao và tâm hồn nghệ sĩ của viên quản ngục còn được Nguyễn Tuân thể hiện qua việc sử dụng sức mạnh của nguyên tắc tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn: đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp, cái cao cả với cái phàm tục, dơ bẩn. Có sự tương phản ở những chi tiết tạo hình được sử dụng để miêu tả không khí của cảnh cho chữ (bóng tối phòng giam, ánh sáng đỏ rực của bó đuốc, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián, tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ…). Có sự đối lập tương phản giữa việc cho chữ (công việc tạo ra cái đẹp nói lên hoài bão tung hoành của một đời con người) với hoàn cảnh cho chữ (nơi hôi hám, bẩn thỉu, nơi giam cầm, cùm trói tự do). Có sự đối lập ở phong thái của người cho chữ (đường hoàng, đĩnh đạc) với tư thế của kẻ nhận chữ (khúm núm, yếu đuối)...
   Ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân trong truyện ngẵn “Chữ người tử tù” giàu chất tạo hình và mang màu sắc trang trọng, cổ kính. Ông sử dụng nhiều từ Hán - Việt, lời ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa làm tăng thêm vẻ đẹp của một “thời vang bóng” ở hình tượng Huấn Cao và viên quản ngục.
      Nhân vật người lái đò trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là nhân vật hiện thực. Đây là hình ảnh của con người  trong chiến đấu, lao động đời thường, đại diện cho những người vô danh, thầm lặng, có mặt trên mọi miền của Tổ quốc.  Ông lái đò sinh ra bên bờ sông Đà và gắn bó với nghề sông nước như bao người lái đò khác nơi thượng nguồn sông Đà. Đời sống tâm hồn của người lái đò giản dị: không nói nhiều về chiến công; dù đi đâu cũng luôn nhớ về nương ruộng, bản mường quê hương xứ sở.
     Để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân sử dụng ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, tài hoa; kết hợp kể với tả nhuần nhuyễn và đặc sắc. Nghệ thuật khắc họa nhân vật độc đáo, sáng tạo. Sử dụng kết hợp các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng, vận dụng  tri thức của liên ngành, đa  ngành góp phần miêu tả cuộc chiến hào hùng và khẳng định vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.
4. Lí giải nguyên nhân của sự vận đông sáng tạo khi xây dựng kiểu nhân vật tài hoa, nghệ sĩ của Nguyễn Tuân.
4.1. Nguyên nhân khách quan
       Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, tác phẩm văn chương muốn được người đọc đón nhận một cách nồng nhiệt và sống mãi với thời gian thì nhà văn phải không ngừng sáng tạo. Nam Cao đã từng nói rằng: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa). Trong quá sáng tác, các nhà văn chân chính bằng tài năng và tâm huyết của mình đã không ngừng nỗ lực và sáng tạo để cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Nhân loại đã tững ngưỡng mộ và tôn vinh những tài năng lỗi lạc như: A.X. Pu-skin , R. Ta- Go, A.P. Sê- Khốp, V. Huy- Gô…với những tác phẩm xuất sắc họ để lại cho muôn đời. Nhận thức được sự sáng tạo trong quá trình sáng tác là một yêu cầu tất yếu của văn chương, các nhà văn Việt Nam trong đó có Nguyễn Tuân đã không ngừng tìm tòi, khám phá và đã tạo được cho mình phong cách riêng cùng với những tác phẩm có giá trị.
4.2. Nguyên nhân chủ quan
       Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, nghệ sĩ lớn, suốt đời đi tìm cái đẹp. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là nhà văn lãng mạn. Ông thể hiện sự bất mãn, bất lực trước hiện thực bằng cách chỉ tin vào cái đẹp trong quá khứ, về một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng.
    Sau Cách  mạng Tám Nguyễn Tuân đã nhanh chóng trở thành nhà văn cách mạng. Tác phẩm của Nguyễn Tuân thời kì này được khơi nguồn từ cuộc sống lao động  sản xuất và chiến đấu của nhân dân nên mang đậm chất hiện thực. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của nhà văn được phát huy mạnh mẽ, quan niệm về cái đẹp cũng có sự chuyển biến rõ rệt.  Ông quan niệm cái đẹp không ở đâu xa mà cái đẹp ở ngay trong hiện thực cuộc sống, trong tâm hồn của những người lao động bình dị đang ngày đêm sản xuất, chiến đấu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ chính là những người nghệ sĩ , những anh hùng vô danh thầm lặng rất đáng được ca ngợi.
III. Kết luận
     Nguyễn Tuân là nhà văn tài năng và giàu sức sáng tạo. Trong cuộc đời cầm bút của mình, ông đã tạo được một  phong cách độc đáo, tài hoa, uyên bác.Tìm hiểu sự  nhất quán và sáng tạo trong cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân phần nào giúp ta hiểu rõ hơn quan điểm thẩm mĩ, sự đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà.
    Trên đây là những tìm hiểu, suy nghĩ của bản thân về kiểu nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Tuân. Chắc chắn chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế.
       Rất mong được sự quan tâm, góp ý chân thành của các đông nghiệp.
 

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 44.79 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hải
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 30/04/2019 23:46
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    2
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

VĂN BẢN MỚI

Số: K/HLS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (26/11/2018)

Số: KẾ HOACH NGOẠI KHÓA lLỊCH SỬ 2018/06/KH-LS
Tên: (GIÁO DỤC TRUYỀN THỒNG YÊU NƯỚC CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN QUA DI SẢN VÀ DANH NHÂN ĐỊA PHƯƠNG I. MỤC ĐÍCH II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH III. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG)

Ngày BH: (01/02/2018)

Số: Số: 28/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập BCĐ viết Kỷ yếu, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (19/05/2017)

Số: Số: 29/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng truyền thống, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (19/05/2017)

Số: QUY ĐỊNH Về đạo đức nhà giáo- Số: 16/2008/QĐ-BGDĐT
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo)

Ngày BH: (15/04/2008)

Số: /QĐ-THPTN
Tên: (Quy tắc ứng xử trường THPT Nghèn)

Ngày BH: (05/03/2017)

Số: 19 /KH-CĐTHPTN
Tên: (Công đoàn THPT Nghèn)

Ngày BH: (19/02/2017)

Số: 04/KHTĐC - THPTN
Tên: (THPT Nghèn)

Ngày BH: (02/02/2017)

Số: - CTr/ĐBN
Tên: (Chương trình hành động thực hiện nghị quyết 04/NQ-TW)

Ngày BH: (05/01/2017)

Số: KẾ HOẠCH NGOẠI KHOÁ LỊCH SỬ NĂM 2016 - Số 05/ KH-LS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (09/12/2016)

Danh mục

Video clip

Hướng dẫn Export sổ điểm để ghi học bạ cho giáo viên bộ môn

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 1513 view

  Giải trí

1 photos | 1406 view

  Kỷ yếu

0 photos | 245 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 11
  • Khách viếng thăm: 10
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 574
  • Tháng hiện tại: 23689
  • Tổng lượt truy cập: 2268777

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606