Rss Feed Đăng nhập

MỘT HƯỚNG KHAI THÁC TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

Gửi lên: 15/11/2018 22:00, Người gửi: trannga, Đã xem: 2105
Đề tài
MỘT HƯỚNG KHAI THÁC TRUYỆN NGẮN
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA  CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
 
I. Lí do chọn đề tài:
            Chiếc thuyền ngoài xa  của nhà văn Nguyễn Minh Châu là truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975. Tác phẩm thể hiện rõ đặc điểm của văn học thời kì đổi mới - vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc; Phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề; phong phú và mới mẻ về thủ pháp nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy; Khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh; đi vào hành trình tìm kiếm bên trong, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường; nói nhiều đến mặt trái của xã hội.
Chiếc thuyền ngoài xa cũng là một văn bản giàu giá trị thẩm mĩ – nghệ thuật, có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, có tính triết lí về con người, về nghệ thuật. Đọc - hiểu tác phẩm này sẽ đem lại nhiều điều hứng thú, nhiều rung cảm thẩm mĩ cho học sinh.
Có nhiều cách để khai thác một văn bản truyện, tương tự như vậy mà có rất nhiều hướng  dạy học văn bản Chiếc thuyền ngoài xa. Cách nào để đem lại hứng thú cho học sinh, làm thế nào để nâng cao hiệu quả phát triển năng lực cho người học trong dạy học Ngữ văn, đó vẫn là những trăn trở, thôi thúc giáo viên tìm tòi những hướng đi mới trong từng văn bản cụ thể.
Trong đề tài này, chúng tôi định hướng khai thác tác phẩm dựa trên đặc trưng của thể loại truyện ngắn và dựa trên đặc điểm truyện Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1986, tính tự sự - triết lí sâu sắc.
II. Nội dung đề tài
1. Thể loại truyện
1.1. Khái niệm truyện
“Truyện là loại văn tự sự, kể chuyện, trình bày sự việc… là sự việc được tổ chức một cách nghệ thuật trong văn học”(Sách giáo viên Ngữ văn 11 tập 1, Nxb GD, H. 2007. tr 151).
            Ở văn học trung đại Việt Nam, truyện là thuật ngữ mà văn học vay mượn từ sử học. Tác phẩm thể truyện có thể được viết bằng thơ hoặc văn xuôi.
            Ở văn học hiện đại, truyện là khái niệm không thật xác định. Một mặt nó vẫn được dùng để trỏ mọi loại tác phẩm tự sự có cốt truyện nói chung, mặt khác lại có lối dùng nó như thuật ngữ trỏ dung lượng tác phẩm (“truyện dài”, “truyện vừa”, “truyện ngắn”).” (Lại Nguyên Ân; 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, H. 1999, tr.349).
1.2. Phân loại truyện
Cách phân loại truyện hợp lí và khoa học hơn cả vẫn là cách phân loại theo tài liệu hướng dẫn giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11. Theo cách này, trong văn học Việt Nam chúng ta có:
– Truyện dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích…
– Truyện trung đại: truyện viết bằng chữ Hán, truyện thơ Nôm.
– Trong văn học hiện đại, theo quy mô văn bản và dung lượng người ta chia thành: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài.
1.3. Đặc trưng của truyện.
            Truyện có “tính khách quan trong sự phản ánh; cốt truyện được tổ chức một cách nghệ thuật; nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động gắn với hoàn cảnh; phạm vi miêu tả không bị hạn chế về không gian và thời gian; ngôn ngữ linh hoạt, gần với ngôn ngữ đời sống” (Sách giáo viên Ngữ văn 11 tập 1, Nxb GD, H. 2007. tr 152).
            Đặc điểm truyện ngắn sau 1975: Nhìn tổng thể, sự vận động của truyện ngắn sau 1975 đã diễn ra giống như một cuộc nhận đường toàn diện và sâu sắc: từ ý thức nghệ thuật đến hành vi sáng tạo, từ tư tưởng đến thi pháp. Sự vận động ấy hướng mạnh mẽ đến những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể loại. Về mặt hình thức, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đổi mới rõ rệt nhất ở ba phương diện: dạng thức cấu trúc cốt truyện, trần thuật và ngôn ngữ truyện. Những cách tân ở ba phương diện ấy đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho truyện ngắn Việt Nam. Đọc – hiểu truyện ngắn sau 1975 nói chung, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyên Minh Châu nói riêng, GV phải nắm vững đặc điểm truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
             Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.
Như vậy khi giảng dạy các tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyên Minh Châu , chúng tôi sẽ vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để học sinh tự khám phá, tìm hiểu văn bản trong chương trình theo đặc trưng thể loại của nó, từ đó hình thành kiến thức và kĩ năng, định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học trong đó có năng lực thẩm mĩ.
2. Phương pháp và hình thức tổ chức đọc – hiểu văn bản Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Dạy học đối với một tác phẩm truyện, nhất là một truyện ngắn sau 1975 là việc làm đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho học sinh cảm nhận, thấy hết những vẻ đẹp về nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời, qua các trải nghiệm thú vị đọc, viết, nói, nghe sẽ giúp người dạy phát triển các năng lực chung, năng lực môn học cho học sinh. Ở bài học này, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sau:
2.1. Dạy đọc – hiểu:
            Dạy đọc – hiểu hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc – hiểu của HS phải được thực hiện theo trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy. Dạy cách đọc – hiểu văn bản nghệ thuật, GV cần hướng dẫn HS đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại.
Các nhiệm vụ cơ bản của người học khi đọc – hiểu:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối…thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi dẫn thảo luận kết hợp với phương pháp giảng bình.
- Hệ thống câu hỏi gợi dẫn vừa theo mạch tư duy lô gich: đi từ điều đã biết đến cái chưa biết, từ dễ đến khó, đồng thời gởi mở theo quy luật tiếp nhận văn chương đi từ những xúc cảm, trăn trở, thể nghiệm đến liên tưởng, chiêm nghiệm, nhận thức,...; từ lớp nghĩa bề nổi đến tầng nghĩa sâu xa của văn bản nghệ thuật. 
- Kết hợp giảng bình của giáo viên và tạo cơ hội cho học sinh được giảng bình khi hứng thú. Giảng bình vốn là phương pháp không thể thiếu để làm nên sự truyền cảm, chất văn, thổi “lửa” cho mỗi giờ học văn.
- Những điểm sáng HS cần giảng bình trong Chiếc thuyền ngoài xa:
+ Chi tiết người đàn ông đánh vợ tàn nhẫn
+ Chi tiết người đàn bà câm lặng, nhịn nhục chịu đựng đòn roi
+ Những hình ảnh biểu trưng và sự thức nhận đau đớn về bao giá trị sống của nghệ sĩ Phùng, chánh án Đẩu. Cùng với việc xây dựng tình huống là những hình ảnh biểu trưng có sức gợi, sức kết lắng ý nghĩa tư tưởng lớn. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, những hình ảnh biểu tượng ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa và chính những hình ảnh này kết lắng và chứa đựng chủ đề tư tưởng tác phẩm.
2.3. Dạy tích hợp:
Dạy học tích hợp lấy chủ thể người học làm xuất phát điểm và đích đến, trong đó tích hợp là việc tổ chức nội dung dạy học của giáo viên sao cho học sinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết. Trong môn học Ngữ văn, dạy học tích hợp là việc tổ chức các nội dung của các phân môn văn học, tiếng Việt, làm văn trong các bài học, giúp HS từng bước nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong việc tiếp nhận và tạo lập các văn bản thuộc các kiểu loại và phương thức biểu đạt. Phương pháp tích hợp không chỉ có tác dụng củng cố kiến thức cũ và định hướng giáo dục tư tưởng, lối sống còn cho người hoc.
​            Để HS có cái nhìn liên hệ, so sánh, tìm kiếm vẻ đẹp chung, sự sáng tạo riêng và hình thành cho HS năng lực tư duy, suy cảm thẩm mĩ, khi dạy Chiếc thuyền ngoài xa chúng tôi thường tích hợp với những vấn đề sau:
​            - Kiến thức lịch sử đời sống trước và sau 1975. 
- Giá trị và hạn chế của văn học giai đoạn 1945 – 1975, tinh thần đổi mới văn học sau 1975, một số tác phẩm cùng cảm hứng luận đề của Nguyễn Minh Châu sau 1975 như Bức tranh, Bến Quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,...
​            - Những tác phẩm văn học có ý nghĩa tuyên ngôn nghệ thuật đã học và sẽ học  như  Vũ Như Tô, Chữ người tử tù, Đàn ghi ta của Lorca,...
​            - Lí luận về bản chất, đặc trưng của văn học nghệ thuật.
            Tùy theo hiện trạng tâm lí, tính cách, kiến thức vốn có và năng lực tiếp nhận, hứng thú tiếp nhận của đối tượng học sinh cụ thể để triển khai những nội dung trên có hiệu quả..
2.4. Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều quan trọng ta phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức hợp, có vấn đề, cần huy động sự suy nghĩ, hợp tác của nhiều người trong giải quyết vấn đề. 
Những vấn đề có thể gợi mở cho học sinh thảo luận khi đọc – hiểu Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu:
            - Hai phát hiện của Phùng (Tìm điểm giống và khác của hai bức tranh hiện thực khi chiếc thuyền ở xa và khi vào gần;...)
- Những chuyển biến về nhận thức của Phùng và Đẩu
- Ý nghĩa chi tiết “Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông voà bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt” (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu), liên hệ với chi tiết “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt” (Vợ nhặt – Kim Lân).
- Ý nghĩa chi tiết Tấm ảnh nghệ thuậttrong bộ lịch năm ấy…, liên hệ với hình ảnh Cửu Trùng Đài trong “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Trích Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng).
Tùy vào từng đối tượng học sinh cụ thể, lượng thời gian cho phép và tính chất, mức độ vấn đề thảo luận để giáo viên lựa chọn thảo luận cặp đôi, cặp 3, nhóm trung bình (4 – 6 HS), nhóm lớn (8 – 10 HS).
2.5. Phương pháp đóng vai:
Đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hànhđể trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình. Phương pháp đóng vai giúp HS rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn. Đặc biệt phương pháp này rất có hiệu quả trong việc phát triển năng lực thẩm mĩ cho HS: Gợi hứng thú và chú ý cho học sinh; HS hình thành kĩ năng giao tiếp, có cơ hội bộc lộ cảm xúc; Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh; Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực; Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
Đọc - hiểu văn bản Chiếc thuyền ngoài xa, HS có thể đóng vai:
- Đóng vai nghệ sĩ Phùng: Nhà văn đã trao điểm nhìn trần thuật cho Phùng, nhân vật – người kể chuyện. Người kể chuyện đóng vai nhân vật nhảy vào các biến cố, tham gia trực tiếp vào các diễn biến của cốt truyện, rồi kể lại cho bạn đọc nghe. Đóng vai Phùng, HS như đang kể lại chuyện mình trực tiếp chứng kiến, trực tiếp tham gia vào biến cố câu chuyện (săn tìm được cảnh đắt trời cho – chiếc thuyền ngoài xa; chứng kiến cảnh bạo lực gia đình – chiếc thuyền khi ở gần; nói chuyện với Phác  –  đứa con; đánh lại gã chồng để tránh đòn cho người đàn bà; nghe lời trần tình, giãi bày của người đàn bà ở tòa án huyện; hình ảnh Phùng một mình anh lang thang dọc bờ biển với bao câu hỏi nhức nhối… …). Từ đó, các em trình bày những suy nghĩ và cảm nhận của mình, suy nghĩ sâu sắc hơn.
- Đóng vai người đàn bà; đóng vai chánh án Đẩu,…
Rõ ràng, khi nhập tâm vào nhân vật, hiểu rõ về nội dung tác phẩm, học sinh không chỉ thẩm thấu kiến thức, liên hệ rộng hơn về tác giả mà còn gắn kết những câu chuyện ngoài đời. Đó chính là sự gắn kết giữa tác phẩm văn học với chất “Đời” gần gũi, từ đó nó giúp học trò hiểu thêm về cuộc sống đa chiều, cùng những giá trị tốt đẹp khác phải nâng niu, vun xới từng ngày.
Đóng vai, hóa thân là phương pháp hữu hiệu để học sinh thực sự sống với tác phẩm, với những rung động, suy nghĩ, trăn trở của nhân vật, người kể chuyện, nhà văn. Qua đó để học sinh cùng liên tưởng, tái tạo, đồng sáng tạo cùng tác giả. Đó chính là sự phát triển năng lức thẩm mĩ ở mức độ cao cho người học.
III. Giáo án thể nghiệm: Đọc – hiểu văn bản Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
         Giúp học sinh nắm được:
1. Về kiến thức
- Cảm nhận được cái nhìn thấu hiểu, trĩu nặng tình thương và nỗi âu lo, trăn trở đối với số phận con người con người của tác giả.
            - Giá trị thẩm mĩ và những chiêm nghiệm, triết lí về nhân sinh và nghệ thuật của nhà văn gửi gắm qua tác phẩm.
            - Cảm nhận được vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm: Sáng tạo tình huống, xây dựng nhân vật, điểm nhìn trần thuật, hình ảnh biểu tượng, lời văn giản dị mà sâu sắc, dư ba,…
2. Về kĩ năng:
 + Huy động những hiểu biết về thể loại truyện ngắn, tri thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm… để đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.
            + Vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để đọc những truyện ngắn hiện đại Việt Nam; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về tác phẩm; rút ra những bài học về cuộc sống.
 3. Về thái độ:
           + Có ý thức hoàn thiện bản thân, có tình yêu đối với cái đẹp, đấu tranh cho lẽ phải trong cuộc sống.
           + Có cái nhìn đa diện, đa chiều trước hiện thực cuộc sống.
           + Có tình yêu đối với thiên nhiên, tình yêu đối với gia đình.
 4. Định hướng góp phần hình thành các năng lực:
           - Năng lực sử dụng ngôn ngữ:
           - Năng lực thẩm mĩ.
           - Năng lực tư duy sáng tạo
           - Năng lực giải quyết vấn đề
           - Năng lực tự quản lí bản thân
           - Năng lực tự học.
B. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
1. Giáo viên:
            - SGK, SGV, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12 của Bộ giáo dục, một số tư liệu tham khảo khác: Tư liệu Ngữ văn 12 (Lã Nhâm Thìn); hai cuốn Thiết kế bài  dạy học Ngữ văn 12 (Phan Trọng Luận, Nguyễn Văn Đường);…
            - Tranh, ảnh về tác giả, những hình ảnh minh họa cho tác phẩm,…
2. Học sinh:
            - Thực hiện ở nhà  các nhiệm vụ học tập như ở trên.
C. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC.
I. Khởi động: Hình ảnh sau gợi cho em nhớ đến một nhân vật trong tác phẩm văn học nào đã học?
       
Thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm khi xây dựng nhân vật này là gì? (Nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn bến quê của Nguyễn Minh Châu. Từ cuộc đời của Nhĩ tác giả muốn giửi đến người đọc thông điệp: cần biết trân quí cuộc sống này, cả những điều nhỏ nhặt nhất, khi còn có thể).
GV giới thiệu bài học: Cùng sáng tác sau 1975, cùng mang đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, bên cạnh Bến quê còn có Chiếc thuyền ngoài xa.
II. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC:
        HOẠT ĐỘNG GV - HS                  NỘI DUNG CẦN ĐẠT
I. Hướng dẫn tìm hiểu tác giả, tác phẩm:                                                -
? Vị trí, sự đóng góp to lớn của Nguyễn Minh Châu đối với nền văn học Việt Nam?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
? Nêu xuất xứ và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”?                 ? Nhìn vào năm sáng tác cho thấy tác phẩm thuộc giai đoạn nào trong giai đoạn nào trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu? Em biết gì đặc điểm lịch sử,xã hội, văn hóa nước ta giai đoạn đó?                  
 
I. Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm:                                                 
1. Tác giả Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989):
 - Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc  của nền văn học Việt Nam hiện đại:               
+ Trước 1975:  Cảm hứng sử thi với thiên hướng trữ tình lãng mạn.                                
+ Sau 1975: Trăn trở, tìm tòi đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng và nghệ thuật, mở ra chặng đường mới trong sáng tác:  Đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách.           
=> một cây bút tiên phong của văn học thời kì đổi mới – người mở đường tinh anh và tài năng  nhất (Nguyên Ngọc).      
 <=> Hành trình  sáng tác: Đi tìm cái hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu con người.                         
   2. Vài nét về Chiếc thuyền ngoài xa:              - Sáng tác năm 1983 -> in trong tập Bến quê (1985), lấy làm nhan đề chung cho tuyển tập truyện ngắn (1987).                                           - Chiếc thuyền ngoài xa in đậm phong cách tự sự – triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác sau 1975.                                      -  Là một trong những sáng tác tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
Hoạt động 2: Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản:
? Tìm những sự kiện, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu?
- GV trình chiếu một số hình ảnh minh họa cho các sự kiện, chi tiết tiêu biểu, sắp xếp không theo diễn biến cốt truyện
- HS quan sát, sắp xếp lại các hình ảnh theo diễn biến cốt truyện và tóm tắt ngắn gọn tác phẩm
? Thế nào là tình huống truyện? Có mấy loại tình huống? “Chiếc thuyền ngoài xa” thuộc loại tình huống nào? Vì sao?
- GV tổ chức HS ôn lại khái niệm tình huống, các loại tình huống; diện mạo tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa; trình bày, nhận xét, tóm tắt tình huống bằng sơ đồ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
? Nhận xét của em về tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa ?
 
 
 
II. Đọc – hiểu văn bản:
* Tóm tắt tác phẩm
 
* Tình huống truyện:
- Diện  mạo: Kiểu tình huống mà ở đó, nhân vật thường được đặt vào 1 sự kiện đặc biệt nào đó, để từ đó ngộ ra, vở lẽ ra trong nhận thức những điều mới mẻ trước đó chưa có được - > tình huống nhận thức.
- Diễn biến tình huống:
+ Phùng thực hiện yêu cầu của trưởng phòng nên thực hiện quá trình săn ảnh của mìnhlí do tạo lên sự gặp gỡ:
+ Phùng phát hiện  nhất là một cảnh đắt trời cho - hình ảnh chiếc thuyền ở ngoài xa đẹp như mơ.
+ Phát hiện thứ 2 là chiếc thuyền khi vào bờ - một cảnh tượng tàn nhẫn, độc ác.
+ Phùng tình cờ chứng kiến câu chuyện của người đàn bà ở tòa àn huyện
+ Ám ảnh nhiều năm sau của Phùng mỗi khi ngắm bức ảnh.
-> Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa thuộc loại tình huống cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Điều đó thể hiện rõ nét thông qua quá trình nhận thức khá quanh co và được “vỡ ra” từ hiện thực cuộc sống của nhiếp ảnh Phùng và chánh án Đẩu. Cả hai đều phải trải qua một quá trình nhận thức để đạt đến trạng thái “đốn ngộ” cho tâm hồn.
* Định hướng tìm hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa chính là tìm hiểu hành trình nhận thức của nghệ sĩ Phùng.
- Phiếu học tập số 1: Thảo luận nhóm
Nhóm 1,3:  Ở phát hiện thứ nhất hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa hiện lên như thế nào? tâm trạng của Phùng?
Nhóm 2,4:  Ở phát hiện thứ 2, Phùng nhìn thấy cảnh tượng gì khi chiếc thuyền vào gần, ngay trên bãi biển? tâm trạng của Phùng?
 HS: trao đổi, thảo luận,  trình bày, nhận xét, phản biện
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
? Mỗi  phát hiện ấy hàm chứa ẩn ý gì? Thông điệp nghệ thuật tác giả gửi gắm qua hai phát hiện ấy?
HS: Chuyện “xa”, “gần” và “chiếc thuyền” không đơn giản chỉ là chiếc thuyền trong những khoảng cách địa lí khác nhau mà là những ẩn dụ nghệ thuật:
 -  Chiếc thuyền: hiện thực đời sống
 - Xa, gần: những cách nhìn (cách phản ánh) của người nghệ sĩ
 
1. Nhận thức của Nghệ sĩ Phùng từ hai phát hiện ở bãi biển:
* Hai phát hiện của Phùng
Thuyền ngoài xa Thuyền vào bờ
- “Một cảnh đắt trời cho”
- Toàn bích, tuyệt mĩ, tuyệt thiện.
- Bình lặng, đơn giản, hài hòa,…
- Nhìn bên ngoài, xa, phủ sương hồng
- Bối rối, hạnh phúc, cái đẹp là đạo đức
- Tâm hồn thăng hoa, bấm máy liên thanh, thu được nhiều bức ảnh đẹp

 
 
 
Hiện thực qua cách nhìn xa (tương ứng cách nhìn nhận, phản ánh đời sống của người nghệ sĩ: đơn giản, sơ lược, lý tưởng hóa, lãng mạn hóa, tô hồng hiện thực,...)
- Đời sống con người
- Xấu xa, ác độc, bạo lực gia đình (tột đỉnh), cảnh đời cay đắng
- Dữ dội, phức tạp, đầy nghịch lí,…
- Nhìn bên trong, gần, trần trụi trước mắt, xám xịt.
- Choáng váng, chết lặng, phẫn nộ.
- Vứt máy ảnh, ngăn cảnh bạo lực…
 

 
 
 
Hiện thực qua cách nhìn gần (tương ứng cách nhìn nhận, phản ánh đời sống của nghệ sĩ: nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ “những điều trông thấy”,...)
* Thông điệp nghệ thuật:
+ Hiện thực không đơn giản, bình lặng, tuyệt mĩ, toàn thiện như ta “tưởng” (từ trong lời văn nghệ thuật của tác giả). Cuộc sống bề bộn, phức tạp, đầy mẫu thuẫn,...
+ Đừng xa ngắm, đơn giản hóa hay lí tưởng hóa, lãng mạn hóa (đừng phủ sương hồng); hãy nhìn gần, nhìn thẳng, nhìn thật vào hiện thực. Nếu không, ngòi bút của anh sẽ không chạm tới được cái chân – thiện – mĩ đích thực, đủ đầy của hiện thực đời sống và nghệ thuật.
+  Đối thoại ngầm với cả một giai đoạn văn học:
     (1)  Chiếc thuyền ngoài xa: biểu trưng cho những giá trị và hạn chế của các sáng tác văn học giai đoạn 1945 – 1975.
     (2) Chiếc thuyền vào gần: biểu trưng cho yêu cầu đổi mới văn học nghệ thuật thời bấy giờ. Vì vậy, tác phẩm được xem là: “Lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”
HS: Đóng vai các nhân vật, dựng lại câu chuyện ở tòa án huyện (tạo không khí, hóa thân vào vai các nhân vật là một cách để hiểu, chia sẻ, đồng cảm)
? Người đàn bà xuất hiện ở tòa án với dáng vẻ thế nào?
 
 
 
 
 
 
 
 Sau khi thấy các biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không hiệu quả, chánh án Đẩu khuyên chị nên li hôn để giải thoát những đau đớn về thể xác, dằn vặt về tinh thần. Tại sao người đàn bà kiên quyết từ chối li hôn? 
HS: Tư duy, suy nghĩ, trình bày, GV chốt lại ý chính:
-“là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông”.
- “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con …Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên đất được
- “ Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi, chúng nó đc ăn no”
- “vả lại ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng, con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.
-  “vốn là người cục tính nhưng hiền lành lắm” “bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh”
- Phiếu học tập số 2: Thảo luận nhóm
- Hãy hình dung Phùng và Đẩu “vỡ ra” điều gì từ câu chuyện của người đàn bà?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
- Cách nhìn về người chồng vũ phu của Phùng, Đẩu, thằng Phác có gì khác người đàn bà ấy? Vì sao? Từ những điều “vỡ ra” của Phùng và Đẩu, tác giả muốn gửi gắm điều gì?
- HS: trao đổi, thảo luận, các nhóm cử đại diện trình bày, phản biện, GV chốt ý.
“Nhưng tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu cái lẽ đời hình như chẳng bao giờ mụ để lộ ra bên ngoài”
GV: Sự vỡ lẽ ấy chính là sự phá vỡ những quan niệm giản đơn về tình yêu, hạnh phúc, về lòng nhân ái, sự khoan dung…mang giá trị nhân bản sâu sắc.
   ? Sự tha hóa của lão đàn ông này gợi nhớ đến những nhân vật nào trong sáng tác của Nam Cao? Điểm gặp gỡ và khác biệt?
(Dành cho HS khá, giỏi -  cuộc chiến bảo vệ nhân tính, thiên lương và vẻ đẹp tâm hồn của con người.)
GV: Phùng và Đẩu sẽ vở lẽ ra điều gì về chình mình?
- GV nêu vấn đề: Sau tất cả những trải nghiệm chứng kiến từ trên bãi biển đến câu chuyện tại tòa án huyện, chiều hôm ấy, Phùng trở lại xưởng thuyền khoác chiếc máy ảnh lang thang cho đến tận đêm khuya, gần sáng. Biển động dữ dội, báo bão cấp 11. Khi các thứ tàu thuyền đà vào bờ, chẳng hiểu sao vẫn còn thấy một chiếc thuyền vó bè đang đậu giữa phá? Hãy hóa thân vào Phùng để lắng nghe những cảm xúc, suy tư của người nghệ sĩ ấy?
- Từ sự phản tỉnh, ngộ ra của Phùng và Đẩu, tác giả đặt ra vấn đề gì?
 
 
 
 
 
 
 
 
- Có ý kiến cho rằng tấm ảnh trong bộ lịch năm ấy ở phần kết truyện là một hình ảnh vừa tả thực, vừa một ẩn dụ, một biểu tượng tạo tính hàm súc, dư ba cho câu chuyện. Anh/chị có đồng ý không? Vì sao?
- HS: Trao đổi, thảo luận, trình bày, phản biện, GV chốt ý nếu cần.
? Vậy qua tấm ảnh, Nguyễn Minh Châu muốn phát biểu điều gì về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
- “Nghệ thuật và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” (Nguyễn Minh Châu). Hành trình từ bức ảnh đen trắng đến ngắm kĩ, nhìn lâu,…của nghệ sĩ Phùng có ẩn ý gì không?
 
2. Nhận thức của nghệ sĩ Phùng (và chánh án Đẩu) từ câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện:
* Câu chuyện của người đàn bà:
- Ban đầu: Sợ sệt, lúng túng, cách xưng hô nhún nhường, giọng điệu van xin khẩn thiết “Con lạy quý tòa,…xin ... đừng bắt con bỏ nó” -> đau đớn đánh đổi bằng mọi giá, sẵn sàng chịu đựng đau đớn, cay cực để không bỏ lão chồng vũ phu.
=> Đẩu phẫn nộ, giận dữ, “không thể hiểu nỗi” (lặp lại 2 lần); Phùng ngột ngạt, bức bối, khó thở.
- Người đàn bà dứt khoát từ chối li hôn. Nguyên do từ chối li hôn:
+ Thứ nhất, gã chồng ấy là chỗ dựa quan trọng trong cuộc đời những người hàng chài như chị, nhất là khi biển động, phong ba.                     
 + Thứ hai, chị cần hắn, bởi vì còn phải cùng nhau nuôi những đứa con.                                + Thứ ba, trên thuyền, có những lúc vợ chồng, con cái sống hoà thuận, vui vẻ.                        + Thứ tư, chị còn hàm ơn và thấu rõ căn nguyên dẫn đến sự vũ phu, tàn nhẫn của chồng (Cuộc sống trên biển bấp bênh, đẻ nhiều, thuyền chật, nghèo đói bủa vây, có khi biển động hàng tháng cả vợ chồng, con cái chỉ toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối,…)                       
  -> Nguyên nhân của sự thay đổi ấy là vì chị đã cảm nhận được thiện ý của hai người và có lẽ còn là sự cảm thông của chị cho sự nông nổi, hời hợt của họ?                                                                            
 
 
 
 
 
* Sự ngộ ra, vở lẽ ra trong nhận thức của Phùng và Đẩu:                                            -  Về người đàn bà:                                        + Ẩn dấu bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là tình yêu thương chồng, con vô hạn, cảm động, thiêng liêng, là 1 tấm lòng nhân hậu, vị tha, bao dung, độ lượng, giàu đức hi sinh, biết chắt chiu niềm vui, nâng niu những hạnh phúc giản dị, đời thường.                        +  Phía sau vẻ  cam chịu, nhẫn nhục nhưng không  hề vô lí là  một người phụ nữ có khát vọng  hạnh phúc, can đảm, cứng cõi, bản lĩnh.                           
+ Phía sau vẻ quê mùa, nhếch nhác, thất học là 1 người phụ nữ thầm trầm, kín đáo, từng trải, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời.                                   
-> Vùi sâu trong nỗi đau, bi kịch là cái hạt ngọc tâm hồn người đàn bà hàng chài       
 -> Kết tinh, hội tụ vẻ đẹp tâm hồn cao cả, cảm động của những người phụ nữ Việt Nam xưa nay.
– Về lão đàn ông:                                            + Trong con mắt của người đàn bà: sự độc dữ có căn nguyên từ hoàn cảnh sống khắc nghiệt làm tha hóa tính cách -> thấu hiểu, bao dung, vị tha, vừa là tội nhân vừa là nạn nhân.                                                          + Đẩu, Phùng và thằng bé Phác mới chỉ thấy được một khía cạnh ở người đàn ông hàng chài này, đó là sự độc ác, tàn nhẫn, ích kỷ. Thái độ của họ đối với anh ta là kịch liệt phản đối.                                                                    -> Không thể nhìn người và nhìn đời một phía, phải hiểu căn nguyên sâu xa dẫn đến hành vi để nhận xét, đánh giá đúng bản chất.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
- Về chính mình của Phùng và Đẩu:                                             + Cái nhìn còn đơn giản, dễ dãi, hời hợt, một chiều về cuộc đời và con người.                                + Bất lực, không  thể giải phóng con người ra khỏi đói nghèo, túng quẫn và bạo lực gia đình, sự tha hóa,… chỉ bằng lòng tốt, đạo lí hay pháp luật, …                                                     + Đó là tình yêu, nỗi lo, sự khắc khoải cho những phận người nhỏ nhoi trong cuộc mưu sinh, tìm kiếm hạnh phúc đầy nhọc nhằn trong đời sống còn tiềm ẩn nhiều nghịch lí, bi kịch thời hậu chiến.
 
 
* Thông điệp được gửi gắm từ sự phản tỉnh, ngộ ra của Phùng và Đẩu:                                                                  + Tiếp cận hiện thực đời sống ở bề sâu, bề sau, bề xa là bài học, là trách nhiệm, cũng là lương tâm của người làm nghệ thuật.
+ Sự thay đổi trong quan niệm con người.      
+ Bài học nhân sinh, triết lí sâu sắc từ những nghịch lí trong đời sống.                 
 + Nỗi khắc khoải, âu lo, trăn trở cho những phận người thời kì hậu chiến.
3. Tấm ảnh trong bộ lịch năm ấy:                  - Tả thực:                                                          + Là bức ảnh đen trắng về thuyền và biển    
+ Là cảnh đắt trời cho, là sản phẩm kì diệu của tạo hóa mà nghệ sĩ chớp lấy, thu vào ống máy sau nhiều ngày săn tìm cái đẹp.                        
-> Bức ảnh ấy là tác phẩm nghệ thuật toàn bích, hoàn mĩ, là kết tinh của sự tạo tuyệt vời và sự thăng hoa cảm xúc thẩm mĩ của nghệ sĩ kết hợp với vẻ đẹp tuyệt mĩ của ngoại cảnh, bới vậy được chọn trong bộ lịch năm ấy và mãi mãi về sau  nó vẫn đc treo ở nhiều nơi, nhất là ở những gia đình sành nghệ thuật.                      
– Ý nghĩa biểu tượng:                                        + Ngằm kĩ thấy màu sương mai hồng hồng: Là hiện thân của chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống, là biểu tượng của nghệ thuật.                                   
 + Nhìn lâu thấy người đàn bà bước ra từ bức ảnh (HS tái hiện) là hiện thân của những lam lũ, khốn khổ, nghèo đói, cay cực, lạc hậu, thất học, nhếch nhác của những phận người trong cuộc sống đời thường.  Đó là bản thân của hiện thực, 1 hiện thực đầy nham nhở, góc cạnh, khắc nghiệt nhiều khi bị che khuất bởi vẻ đẹp tuyệt mĩ bên ngoài, nó là sự thật đằng sau bức tranh.
-> là biểu tượng thực tế của cuộc sống còn nhiều uẩn khúc, nghịch lí không dễ gì nắm bắt, khám phá, lí giải.
=> Quan niệm: nghệ thuật chân chính không bao giờ rời xa cuộc đời và phải là cuộc đời, luôn luôn vì cuộc đời.
- Hành trình từ bức ảnh đen trắng đến ngắm kĩ, nhìn lâu,… cũng là hành trình sáng tạo, là cách tiếp cận hiện thực đời sống ở bề sâu, bề xa, ở nhiều tầng vỉa của nghệ sĩ. Muốn vậy, nghệ sĩ phải dấn thân, nhập cuộc, phải lặn vào đáy sâu cuộc đời mới sáng tạo ra nghệ thuật đích thực và cần thiết đối với con người. Đó là sứ mệnh cao cả của nhà văn chân chính.
Hoạt động luyện tập, củng cố:
? Khái quát trên những nét lớn giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm?
 Hoạt động vận dụng, ứng dụng:
- Em hãy tưởng tượng và kể tiếp câu chuyện về cuộc gặp gỡ của Phùng với người đàn bà hàng chài sau này.
– Từ xung đột của Phác và người cha, em có suy nghĩ gì về môi trường giáo dục của gia đình trong việc hình thành nhân cách của con cái?
(Hình thành năng lực chia sẽ, lan tỏa cảm xúc thẩm mĩ, tạo lập sảm phẩm thẩm mĩ mới).
                                                         KẾT LUẬN
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả và tạo hứng thú trong giờ đọc văn, giáo viên cần phải nghiên cứu, nắm chắc các mức độ phát triển năng lực người học. Trước mỗi bài học với đối tượng học sinh cụ thể, người dạy cần phối hợp đa dạng, linh hoạt các phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và lựa chọn phương pháp tối ưu trong phát triển năng lực thẩm mĩ cho HS.
             Đối với những tác phẩm hay,  tiêu biểu, có giá trị phong phú, phù hợp đối tượng và mục tiêu giáo dục như “Chiếc thuyền ngoài xa” cần được ưu tiên lựa chọn, khai thác và cần được ưu tiên hơn về thời lượng thời gian để nâng cao chất lượng dạy học – giáo dục ở bậc THPT.

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 301.88 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: Trần Thanh Nga
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 15/11/2018 22:00
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    135
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

VĂN BẢN MỚI

Số: 3313/BGDĐT-GDĐH
Tên: (Điều chỉnh lịch triển khai công tác tuyển sinh)

Ngày BH: (28/08/2020)

Số: 61 /KH-THPTN
Tên: (Thực hiện công văn chỉ đạo Số: 611/SGDĐT-GDPT, ngày 16/4/2020 và các công văn hướng dẫn của Sở về việc dạy học qua Internet trong thời gian qua, Trường THPT nghèn xây dựng quy định về việc dạy học qua Internet trong thời gian tới như sau:)

Ngày BH: (18/04/2020)

Số: Số: 239-KH/TWĐTN-TNTH
Tên: (KẾ HOẠCH Tổ chức Cuộc thi tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc “Tự hào Việt Nam” lần thứ III, năm học 2019 - 2020)

Ngày BH: (18/10/2019)

Số: /KHNH20192020
Tên: (Kế hoạch năm học 2019 - 2020)

Ngày BH: (10/09/2019)

Số: K/HLS
Tên: (I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU. II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, THỜI GIAN, HOẠT ĐỘNG)

Ngày BH: (27/11/2018)

Số: KẾ HOACH NGOẠI KHÓA lLỊCH SỬ 2018/06/KH-LS
Tên: (GIÁO DỤC TRUYỀN THỒNG YÊU NƯỚC CHO ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN QUA DI SẢN VÀ DANH NHÂN ĐỊA PHƯƠNG I. MỤC ĐÍCH II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH III. CƠ CẤU GIẢI THƯỞNG)

Ngày BH: (02/02/2018)

Số: Số: 28/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập BCĐ viết Kỷ yếu, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (20/05/2017)

Số: Số: 29/QĐ-THPTN
Tên: (Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng truyền thống, hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Trường THPT Nghèn 1988-2018)

Ngày BH: (20/05/2017)

Số: QUY ĐỊNH Về đạo đức nhà giáo- Số: 16/2008/QĐ-BGDĐT
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo)

Ngày BH: (16/04/2008)

Số: /QĐ-THPTN
Tên: (Quy tắc ứng xử trường THPT Nghèn)

Ngày BH: (06/03/2017)

Danh mục

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 2103 view

  Giải trí

1 photos | 1948 view

  Kỷ yếu

0 photos | 755 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 12
  • Khách viếng thăm: 11
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 2268
  • Tháng hiện tại: 62937
  • Tổng lượt truy cập: 3270539

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606