Rss Feed Đăng nhập

Phương pháp Huấn luyện môn Vật tự do

Gửi lên: 16/03/2016 23:17, Người gửi: theduc, Đã xem: 527
Phương pháp Huấn luyện môn Vật tự do
Phương pháp Huấn luyện môn Vật tự do
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 
1. Những cơ sở lý luận:
          Giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông chiếm một vị trí rấy quan trọng, là một trong  các mặt giáo dục toàn diện con người. Rèn luyện: Đức – Trí – Thể  - Mỹ. Đó là yêu cầu giáo dục của Đửng ta trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ nhằm rèn luyện con người phát triển toàn diện. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Bác Hoocf đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục năm 1946. Bác nói “Sức khỏe là mẹ đẻ của thành công”, có như vậy mới sánh vai các cường quốc năm châu. Nếu một cơ thể yếu ớt dù có trí thức như thế nào cũng không thể phục vụ cho xã hội được. Thật vậy Mao chủ tịch đã nói “Sức khỏe là chiếc xe để chở tri thức”. Rèn luyện thể dục không chỉ ngày một, ngày hai mà phải liên tục, suốt đời luyện tập như vậy mới  có kết quả. Ngày nay dưới ánh sáng của các Nghị quyết Đảng, công tác hoạt động Thể dục Thể thao được phát triển không ngừ trên toàn Quốc, mọi thành viên, lứa tuổi tham gia tích  cực.
          Đặc điểm của hoạt động Thể dục Thể thao là phù hợp lứa tuổi, trình độ văn hóa, già, trẻ, trai, gái, thời gian và không gian luyện tập trong cuộc sống hằng ngày ở thôn quê, đô thị, hay nhà trường.
          Thể dục là một môn học bắt buộc trong các cấp  học phổ thông, thông qua giờ học thể dục giúp học sinh nắm được kỷ, chiến thuật các môn Thể dục, điền kinh và các môn thể thao để các em về nhà tự tập luyenj thường xuyên liên tục để không ngừng nâng cao sức khỏe, kỷ thuạt, chiến thuật trong thi đấu các môn thể thao vfa điền kinh.
 
2. Cấu tạo chương trình bộ môn Thể dục:
          + Các môn điền kinh: chiếm 40%
          + Các môn thể thao: chiếm 60%
a. Đặc điểm các môn điền kinh: Chạy nhảy, ném. Các môn này điều kienj luyện tập, sân bãi thuận lợi nên học sinh có điều kiện luyện tập ở lớp nhiều hơn ở nhà
b. Đặc điểm các môn thể thao: Đá cầu, cầu lông và các môn thể thao tự chọn: (Bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ hoặc các môn thể thao khác do giáo viên chọn, như võ, vật tự do …). Các môn thể thao trên đều thuận tiện trong luyện tập ở trường cũng như ở nhà.
 
3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT:
          Các em trong độ tuổi dậy thì, các cơ quan cơ thể đang phát triển manhjowr giai đoạn nỳ như các cơ quan thực vật, hô hấp, tuàn hoàn. Dặc biệt là hình thành cung phản xạ có điều kiện bền vững. Nhưng ở độ tuổi này cũng dễ chán nản nếu nội dung học đơn điệu, ít nội dung. Vì vậy trong giờ học nội khóa lồng ghép 2 đến 3 nội dung để giờ dạy thêm sinh động, tăng độ hưng phấn trong luyện tập dể học sinh đạt kết quả cao.
 
4. Đặc điểm các môn thể thao:
          Hầu hết các môn thể thao đều mang tính truyền thống của dân tộc, từng quốc gia trên oàn thế giới. Đồng thời cũng là đặc trưng của từng quốc gia riêng biệt. Vì vậy môn học có đặc thù riêng của nó. Ví dụ: Như môn cầu mây ở Thái Lan, đánh gôn ở Châu Âu, … nhưng hạn chế của môn Thể thao là nhiều môn không có điều kiện, sân bãi, dụng cụ dể tập luyện nên thành tích chưa cao, có môn già trẻ không thể chơi được.
 
5. Đặc điểm của môn vật tự do:
          Vật tự do là môn có ở Việt Nam từ xã xưa nó ra đời cùng bắn cung, đua ngựa. Ngay từ thời cổ xưa người Việt đã tổ chức hàng năm vào ngày lễ lớn các môn thể thao như: Đua xe đạp, bắn cung, vật tự do. Đó là ba môn mà lịch sử thi đấu lâu đời ở Việt Nam. Ngày nay các môn đó cũng được tổ chức thi đấu ở các đại hội lớn Quốc gia và quốc tế. Do vậy công tác tập luyện tham gia thi đấu ngày càng phát triển mở rộng  trong mọi tầng lớp nhân dân, công nhân, trí thức. Nó nằm trong chương trình luyện tập thi đấu các môn thể thao quần chúng  hàng năm, ở đây toi chỉ đi sâu vào Môn Vật tự do.
          * Vật tự do: Là môn thi đấu đối kháng trực tiếp, yếu cầu vận động viên có kỹ thuật, chiến thuật hợp lý để luyện tập và thi đấu được tốt.
          + Những yêu cầu về vận động viên vật tự do:
          a. Có sức mạnh
          b. Có sức bền
          c. Có sức khéo léo
          + Cách tuyển chọn vận động viên:
          a. Đến địa phương có phong trào vật
          b. Chọn những em là học sinh trong trường
          c. Thành lập đội tuyển
          d. Phương pháp huấn luyện
 
Ii. Gi¶I quÕt vÊn ®Ò
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
          Vật tự do là môn có ở Việt Nam từ xa xưa nó ra đời cùng bắn cung, đua ngựa. Ngay từ thời cổ xưa người Việt đã tổ chức hàng năm vào ngày lễ lớn các môn thể thao như: Đua xe đạp, bắn cung, vật tự do. Đó là ba môn mà lịch sử thi đấu lâu đời ở Việt Nam. Ngày nay các môn đó cũng được tổ chức thi đấu ở các đại hội lớn Quốc gia và quốc tế. Do vậy công tác tập luyện tham gia thi đấu ngày càng phát triển mở rộng  trong mọi tầng lớp nhân dân, công nhân, trí thức. Nó nằm trong chương trình luyện tập thi đấu các môn thể thao quần chúng  hàng năm, ở đây tôi chỉ đi sâu vào Môn Vật tự do.
          * Vật tự do: Là môn thi đấu đối kháng trực tiếp, yếu cầu vận động viên có kỹ thuật, chiến thuật hợp lý để luyện tập và thi đấu được tốt.
          Những yêu cầu về vận động viên vật tự do:
          a. Có sức mạnh
          b. Có sức bền
          c. Có sức khéo léo
 
B. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Thuận lợi
- Được sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường đối với việc giảng dạy môn thể dục cũng như hoạt động giáo dục thể chất
- Đội ngũ giáo viên Thể dục luôn nhiệt tình trong công tác giảng dạy, luôn nỗ lực, trau dồi, học hỏi đồng nghiệp, tự nghiên cứu tài liệu. Vận dụng được nhiều phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy.
- Trường đóng trên địa bàn có học sinh của địa phương có truyền thống về đấu vật học nên cũng có nguồn vận động viên vật ban đầu
2. Khó khăn:
          - Cở sở vật chất còn thiếu thốn, dụng cụ tập luyện chưa đảm bảo về chất lượng
          - Sân bãi tập luyện còn chật chội, không có sân tập riêng, không có nhà đa chức năng
          - Nhận thức của phụ huynh và học sinh về bộ môn Thể dục còn yếu, nhất là đối với việc tổ chức luyện tập cho các em tham gia vào đội tuyển tham gia thi đấu tại các kỳ Đại hội, HKPĐ là hết sức khó khăn, nhất là đối với môn vật, đây là môn thi đấu đối kháng, dễ gây ra nhiều tai nạn
          - Đối với môn vật việc tìm đủ 5 hạng cân thi đấu cũng là một vấn đề hết sức gian nan.
 
C. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
I. Thành lập đội tuyển
1. Cách tuyển chọn vận động viên:
a. Chọn các em là học sinh ở địa phương có phong trào vật:
          Để tuyển chọn được các vận động viên vào các đội tuyển Điền kinh và thể thao tham gia các kỳ Đại hội và HKPĐ hàng năm thì việc tổ chức HKPĐ là rất cần thiết ở các nhà trường. Chính vì vậy ngay từ đầu năm học Tổ Thể dục phải có kế hoạch tham mưu với nhà trường để tổ chức HKPĐ một cách bài bản, trang trọng và đảm bảo thời gian theo kế hoạch của Sở Giáo dục và đào tạo.
Trong nội dung thi đấu tại HKPĐ ở trường từ năm 2004 đến nay chúng tôi đã đưa nội dung Vật tự do vào thi đấu, tuy nhiên bước đầu chưa được sự đồng thuận của BGH nhà trường vì lo xẩy ra tai nạn. Nhưng bằng cách thuyết phục và tham mưu một cách quyết liệt nên nhà trường đã đồng ý. Và từ đó  đến nay nội dung thi đấu môn vật tự do được thi đấu một cách bình thường và chưa xẩy ra tai nạn nào. Thông qua việc tổ chức thi đấu môn vật tại HKPĐ ở trường chúng tôi đã tìm được một số vận động viên của môn vật tự do để tổ chức huấn luyện. Nhưng chủ yếu các em tham gia thi đấu môn vật tại HKPĐ trường là học sinh ở địa phương có phong trào vật
 
b. Chọn những em có thể lực tốt, sức mạnh, sức mạnh tốc độ, sức bền và khéo léo:
          Ngoài việc tuyển chọn vận động viên vật tại HKPĐ vào đội tuyển nhưng chưa thể đảm bảo được 5 hạng cân vì vậy cần phải tuyển chọn những em có thể lực tốt, có sức mạnh, sức mạnh tốc độ, khả năng khéo léo và đảm bảo hạng cân mà đội tuyển đang thiếu. Chính vì vậy mà thông qua giảng dạy của bản thân mình và đồng nghiệp để phát hiện ra các em đó và động viên các em tham gia vào đội tuyển môn vật.
2. Có 5 hạng cân thi đấu môn vật tự do ở THPT:
                   Hạng 1: Từ 42 kg đến dưới 46 kg
                   Hạng 2: Từ 46 kg đến dưới 50 kg
                   Hạng 3: Từ 50 kg đến dưới 54 kg
                   Hạng 4: Từ 54 kg đến dưới 58 kg
                   Hạng 5: Từ 58 kg đến dưới 63 kg
 
3. Thời gian luyện tập:
                   Tập trong 12 tuần
Tập tuần 2 buổi chiều
 
II. Phương pháp huấn luyện
1. Kế hoạch tập luyện môn vật tự do
 
Tuần Nội dung
Tuần 1 - Chạy nhanh cự ly 40 m
- Chạy bền cự ly 1.000m
- Tập cơ ke bụng
Tuần 2 - Tập chạy nâng cao đùi tại chỗ
- Tập ngồi xổm lộn đuôi
- Tập ngồi  xổm lộn ngược
- Tập cơ ke bụng
Tuần 3 - Chạy bền cự ly 1.500m
- Ngồi xổm lộn xuôi, ngược
- Lộn người thẳng người qua vai
Tuần 4 - Tập kỷ thuật cơ bản
- Tập thế thủ
- Tập ra đòn
Tuần 5 - Tập phá thế của đối phương
- Một bên ra đòn
- Tập thể lực nằm sấp chống tay
Tuần 6 - Ôn tập nội dung tuần 4, 5
- Tập ke cơ bụng
Tuần 7 - Tập đối kháng
- Từng hạng cân tập với nhau
- Tập thể lực chung
Tuần 8 - Hạng cân dưới đánh hạng cân trên
- Đối kháng, chiến thuật
Tuần 9 - Thi đấu đối kháng, chiến thuật thi đấu
- Thăm dò đối phương
- Phá đòn đối phương
Tuần10 - Phá đòn nằm sấp
- Xoay đối phương liên tục rồi nhanh chóng xoay ngược lại 1 vòng bật cánh
Tuần 11 - Phá đòn nằm giữa
- Hai tay thân trên đè đối phương đồng thời chân mình hất chân đối phương
- Tập thể lực chuyên môn
Tuần 12 - Ôn các nội dung học trong tuần 11
- Thi đấu đối kháng
 
2. Phương pháp tập luyện môn  vật tự do
 
a. Tuần 1,2 và 3: Tập thể lực hỗ trợ
* Bài tập:
1. Chạy nhanh cự ly 40m; số lần 10 lần nghỉ 10 phút chạy đợt 2
2. Chạy bền cự ly 1000m; số lần: 2 lần nghỉ 15 phút chạy đợt 2
3. Tập ke cơ bụng; số lần 15 lần nghỉ 5 phút làm đợt 2, nghỉ 7 phút làm đợt 3
b. Tuần 4, 5 và 6: Tập kỹ thuật cơ bản môn vật tự do
* Bài tập:
1. Tập thế thủ và di chuyển; số lần: 20 lần nghỉ 5 phút làm đợt 2
2. Tập vào thế ra đòn đánh đối phương; số lần: 20 lần, nghỉ 5 phút làm đợt 2
3. Tập phá thế đối phương khi đối phương ra đòn đánh; số lần 20 lần, nghỉ 5 phút làm đợt 2
          + Từng hạng cân tập với nhau theo phương pháp sau:
          - Một bên ra đòn đánh
          - Một bên phá đối phương ở thế trung bình tấn
          - Sau đó đổi bên ngược lại
          + Tập thể lực:
          - Tập sức mạnh: Nằm sấp chống tay: Số lần tập đến khi không thể chống đẩy được nữa thì dừng lại, nghỉ 5 phút làm lại lần 2 và lần 3.
          - Tập cơ bụng và lưng: Số lần tập đến khi không thể tập được nữa thì dừng lại, nghỉ 5 phút rồi tiếp tục làm lần 2 và lần 3
 
c. Tuần 7, 8, 9: Tập đối kháng và thi đấu
* Bài tập:
1. Từng hạng cân tập với nhau; số lần 10 lần, nghỉ 10 phút tập đợt 2
2. Tập đối kháng hạng cân dưới đánh hạnh cân trên đó; số lần 05 lần, nghỉ 10 phút tập đợt 2
3. Thi đấu đối kháng, chiến thuật thi đấu
          - Thăm do đối phương ra đòn, tìm cách phản đòn đối phương
          - Phá thế của đối phương khi ra đòn
 
d. Tuần 10, 11 và 12: Phá đòn nằm sấp, ngữa
* Bài tập:
1. Khi đối phương nằm sấp, tay giang ngang, thì nằm sấp sát sàn đấu
2. Khi đối phương nằm ngữa nhưng vai và lưng chạm sát sàn đấu
3. Tập thể lực chuyên môn: Bài tập: Phát triển sức mạnh tốc độ
 
D. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC QUA TẬP LUYỆN VÀ THAM GIA THI ĐẤU
 
1. Khi chưa áp dụng “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do”
          Từ năm học 2000 – 2004 tôi bắt đầu được tổ giao cho huấn luyện môn vật, vì mới ra trường chưa có kinh nghiệm lắm về môn vật nên hằng năm huấn luyện tôi chỉ chọn được những học sinh có biết vật quê ở Thuần Thiện tham gia huấn luyện và thi đấu.
          Lúc đó tôi chủ yếu cho các học sinh thi đấu với nhau rối sau đó cho tập các bài tập phát triển thể lực cơ tay, ngực, lưng, bụng và chân là chủ yếu, còn huấn luyện theo bài bản các miếng đánh, đòn đánh, phòng thủ tấn công thì chỉ loa qua,  nên kết quả chưa cao, hơn nữa không chọn đủ số lượng vận động viên theo 5 hạng cân, mà chủ  yếu tham gia được là 3  đến 4 hạng cân
          * Kết quả cụ thể:
          Năm 1999- 2000: Tham gia 3 hạng cân: đạt 1 giải nhất
          Năm 2000 – 2001: tham gia 3 hạng cân, đạt 1 giải nhì
          Năm học 2001 – 2002: tham gia 4 hạng cân, đạt 1 giải nhất, 1 giải 3
          Năm học 2002 – 2003: Tham gia 2 hạng cân: đạt 1 giải nhì
          Năm học 2003 – 2004: Tham gia 3 hạng cân: đạt 1 giải nhì, 1 giải 3
 
2. Khi áp dụng “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do”
* Kết quả cụ thể:
          - Năm học 2004 – 2005: Tham gia 5 hạng cân: đạt 1 giải nhất, 1 giải nhì và 1 giải ba
          - Năm học 2005 – 2006: Tham gia 5 hạng cân: đạt: 1 giải nhất, 2 giải ba
          - Năm học: 2006- 2007: Tham gia 5 hạng cân: đạt: 1 giải nhất, 1 giải nhì, 1 giải ba
          - Năm học 2007 – 2008: Tham gia 5 hạng cân: đạt:  2 giải nhì, 1 giải ba
          - Năm học 2008 – 2009, 2009 – 2010, 2010 – 2011: Môn vật không tổ chức thi đấu
          - Năm học 2011 – 2012: Tham gia 4 hạng cân: đạt: Đạt 1 giải nhất, 1 giải nhì và 1 giải ba
 
3. Bảng kết quả so sánh  số lượng vận động viên đạt giải và chất lượng giải khi chưa áp dụng và khi áp dụng “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do”
 
Trước khi chưa áp dụng “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do” Sau khi áp dụng “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do”
Năm học Số
VĐVđạt
giải
%
đạt giải
% đạt
Giải nhất
% đạt giải nhì %
đạt giải ba
Năm học Số
VĐVđạt
giải
%
đạt giải
% đạt
Giải nhất
% đạt giải nhì %
đạt giải ba
1999-2000 1 33,3% 33,3
%
0
%
0
%
2004-2005 3 60% 20% 20% 20%
2000-2001 1 33,3% 0
%
33,3
%
0
%
2005-2006 3 60% 20% 0
%
40%
2001-2002 2 50% 25
%
0
%
25% 2006-2007 3 60% 20% 20
%
20%
2002-2003 1 50% 0
%
50
%
0
%
2007-2008 3 60% 0
%
40
%
20%
2003-2004 2 66,6% 0
%
33,3% 33,3% 2011-2012 3 75% 25% 25
%
25%
Tổng giải
 5 năm
7   2 3 2 Tổng giải
 5 năm
15   4 5 6
Tỷ lệ % đạt giải 5 năm   46,6% 13,3
%
20% 13,3% Tỷ lệ % đạt giải 5 năm   62,5% 16,6% 20,8% 25%
 
Như vậy qua bảng so sánh trên chúng ta thấy, sau khi áp dung “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do”  thì số lượng vận động viên đạt giải tỷ lệ ngày càng cao và chất lượng giải ngày càng tăng, cụ thể tổng số giải tăng trong 5 năm là 15,9 %, trong đó giải nhất tăng 3,3%, giải nhì tăng: 0,8%, giải ba tăng 11,7%. Chứng tỏ việc áp dụng hệ thống phương pháp và các bài tập mới để nâng cao thành tích môn vật tự do đã phản ánh được tính hiệu quả và tích cực của nó.
 
 III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
                 1. KẾT LUẬN.
            Việc  “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do” đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đó là nâng cao thành tích môn vật tự do, qua đó động viên khuyến khích học sinh tích cực hơn trong học tập môn thể dục và rèn luyện thân thể. Không  chỉ đơn thuần là góp phần nâng cao thành tích môn Thể dục cho nhà trường để từ đó khơi dậy tinh thần rèn luyện thân thể và luyện tập các môn thể thao để nâng cao sức khỏe trong giáo viên và học sinh mà việc áp dụng “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do” còn có một giá trị nhân văn cao hơn nữa đó là góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của quê hương, giữ gìn và phát huy truyền thống quê hương làng vật “Thuần Thiện” Can Lộc.
 
            2. KIẾN NGHỊ:
            - Môn vật nên đưa vào thi đấu tại các Đại hội Điền kinh – Thể thao và KHPĐ hằng năm (đã có 3 năm không đưa vào thi đấu : 2008 – 2009, 2009 – 2010, 2010 – 2011), có như vậy mới góp phần giữ gìn truyền thống của một số làng vật trên quê hương Hà Tĩnh nói chung và xã Thuần Thiện Can Lộc nói riêng. Để đảm bảo an toàn trong thi đấu thì môn vật nên đưa vào thi chung kết tại Sở như năm học 2011- 2012, vì ở Sở thể thao có Sới vật, có trang thiết bị đảm bảo và có đội ngũ trọng tài chuyên nghiệp. Không nên tổ chức đấu loại tại các cụm vì điều kiện thi đấu không đảm bảo.
 
            3. Bài học kinh nghiệm
               a. Với giáo viên
-  Phải lao động thực sự, có tâm huyết với nghề nghiệp,có lòng say mê bộ môn.
- Phải nghiên cứu kỹ các phương pháp và các bài tập, việc sắp xếp các bài tập phải khoa học theo đúng quy trình vận động từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp; biết phát huy tính tích cực và chủ động của học sinh trong luyện tập để từ đó, từ đó mới phát huy được tiềm năng của học sinh cũng như tích tự giác luyện tập và yêu thích môn Thể dục của HS.
- Qua các buổi tập phải nắm được lượn vận động đã phù hợp chưa, mức độ và độ khó của các bài tập đã đảm bảo chưa để từ đó có những điều chỉnh phù hợp giúp cho học sinh vừa phát triển được các tố chất thể lực vừa nâng cao trình độ chuyên môn
- Cần sự tham gia góp ý, hỗ trợ của các đồng nghiệp trong tổ bộ môn.
b. Với học sinh:
- Phải tích cực tập và luyện tập đúng theo hướng dẫn và nội dung các bài tập một cách khoa học và đảm bảo an toàn trong luyện tập.
- Không những tập luyện trên lớp và trên trường mà phải thường xuyên luyên tập ở nhà.
 
Sáng kiến kinh nghiệm “Đổi mới  phương pháp Huấn luyện nhằm nâng cao thành tích  môn vật tự do” đã được tôi áp dụng trong một thời gian khá dài và đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên không thể tránh được những thiếu sót, hạn chế hoặc chưa phù hợp. Vì vậy kính đề nghị, bạn bè đồng nghiệp, ban giám khảo đóng góp ý kiến và bổ sung để cho đề tài được hoàn thiện hơn và có tính khả thi hơn.
                                                                                                                                                                                                                                 Xin chân thành cảm ơn!
                                     
 

Tải về

Từ site Trường THPT Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
( Dung lượng: 95.00 KB )

  • Phiên bản: N/A
  • Tác giả: Ngô Đức Chính (thuyenchinh@gmail.com)
  • Website hỗ trợ: N/A
  • Cập nhật: 16/03/2016 23:17
  • Thông tin bản quyền: N/A
  • Đã tải về:
    18
Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?

Hãy click vào hình sao để đánh giá File
 

Danh mục

Thư viện hình ảnh

  Hoạt động

-1 photos | 1660 view

  Giải trí

1 photos | 1558 view

  Kỷ yếu

0 photos | 381 view

Thống kê

  • Đang truy cập: 35
  • Khách viếng thăm: 34
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 953
  • Tháng hiện tại: 50825
  • Tổng lượt truy cập: 2541302

Hỗ trợ online

Võ Đức Ân
0964867606